Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số ý kiến đề xuất nhằm tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động sự nghiệp y tế tại bệnh viện Nhi trung ương

Chuyên đề cuối khoá
không có những phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu của công việc thì
không thể đầy mạnh phát triển kinh tế là một điều tất yếu. Điều đó nói lên
rằng y tế không phải là một phạm trù phúc lợi đơn thuần mà nó có tác động
đến sự nghiệp kinh tế. Song chất lượng hiệu quả của hoạt động y tế phụ thuộc
rất nhiều vào việc đầu tư vốn cũng như việc quản lý nguồn vốn đầu tư này.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế góp phần đảm
bảo sự công bằng xã hội. Nhất là trong điều kiện nước ta ngày nay, mặc dù đã
có sự điều tiết của nhà nước nhưng cơ chế thị trường vẫn có những quy luật
tất yếu của nó đó là sự phân hoá người giàu và người nghèo, khoảng cách này
ngày càng lớn. Mặt khác người nghèo có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn người
giàu rất nhiều, việc họ không có đủ khả năng chi trả cho việc khám chữa bệnh
là điều tất yếu. Quản lý kinh phí sao cho phù hợp với từng đối tượng là một
vấn đề rất khó đồng thời vẫn đảm bảo công bằng cho mọi người lại còn khó
hơn. Điêu này thể hiện ở việc nhà nước đảm bảo cho mọi người đều được
chăm sóc sức khoẻ ở mức độ cơ bản theo khả năng tối đa của NSNN dành cho
khám chữa bệnh. Đối tượng ưu tiên và người nghèo không đủ khả năng chi
trả thì được nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách xã hội. Các đối tượng
khác có nhu cầu phục vụ cao hơn được các cơ sở y tế, bệnh viện tạo điều kiện
thuận lợi phù hợp với khả năng thanh toán của họ.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế là một trong
những công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của
xã hội. Thông qua việc xác định cơ cấu tỷ trọng các khoản chi ở các đơn vị
mà Nhà nước tham gia điều chỉnh hướng dẫn đảm bảo các hoạt động y tế ở
các đơn vị sự nghiệp y tế đi đúng hướng theo đường lối của Đảng và Nhà
nước.
Trên đây là một số vai trò chủ yếu của việc quản lý sử dụng kinh phí ở
các đơn vị sự nghiệp y tế. Song các vai trò này phát huy được hay không phụ
thuộc rất lớn vào công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng như hệ
thống quản lý ở các đơn vị sự nghiệp này.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
1.2. CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.
Có 3 nguồn vốn cơ bản:
- Ngân sách do Nhà nước cấp hàng năm.
- Thu viện phí và bảo hiểm y tế do cơ quan Bảo hiểm Y tế thanh toán
cho bệnh viện.
- Thu viện trợ và các khoản khuyên góp.
Đối với các đơn vị sự nghiệp y tế, các nguồn tài chính được lập kế
hoạch cho từng năm trên cơ sở định mức của Bộ Tài chính qui định, định mức
do bệnh viện tự xây dựng đã được cơ quan chủ quản duyệt, và dự báo về khả
năng thu.
1.2.1. Nguồn ngân sách do Nhà nước cấp hàng năm.
Hàng năm bệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ
ngân sách của Nhà nước, căn cứ tính theo định mức tính cho một đầu giường
bệnh/ năm nhân (x) với số giường bệnh kế hoạch của bệnh viện. Số kinh phí
này thường đáp ứng được từ 30 đến 50% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của Bệnh
viện.
1.2.2. Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế.
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế được Bộ Tài chính qui định là một
phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho ngành y tế quản lý và
sử dụng. Các nguồn ngân sách này được quản lý tập trung thống nhất tại
phòng Tài chính – Kế toán của bệnh viện theo chế độ kế toán hành chính sự
nghiệp do Chính phủ Việt Nam qui định. Các bệnh viện thường tổ chức các
điểm thu viện phí tại nhiều nơi trong bệnh viện, đảm bảo thu nhanh chóng,
thuận tiện, tránh phiền hà cho người bệnh.
Giá viện phí do Chính quyền cấp tỉnh của từng địa phương quy định
dưa trên một khung giá tối đa-tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính
duyệt. Đối với khám chữa bệnh theo yêu cầu mức thu được tính trên cơ sở
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
mức đầu tư của bệnh viện và cũng đã được giới chức có thẩm quyền ở địa
phương duyệt.
Đối với người bệnh có thẻ Bảo hiểm Y tế thì cơ quan Bảo hiểm Y tế
thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện. Tuy nhiên, ở Việt Nam mới
chỉ phổ biến loại hình BHYT bắt buộc áp dụng cho các đối tượng CNVC làm
công ăn lương cho các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Các loại hình
khác chưa được triển khai một cách phổ biến.
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 20-30%
nhu cầu chi tối thiểu của các bệnh viện công.
Hiện nay, thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức
khoẻ của Đảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công,
ngoài công lập đã ra đời, với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện
phí và bảo hiểm y tế.
1.2.3. Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác.
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được Chính phủ Việt Nam
qui định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và
sử dụng. Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo những nội dung đã
định từ phía tổ chức viện trợ. Nguồn này đáp ứng khoảng 20-30% chi tối
thiểu của bệnh viện.
Trong tổng ngân sách sự nghiệp y tế, phần ngân sách trung ương chiếm
khoảng 30%, trong đó ngân sách dành cho 30 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
chiếm khoảng từ 28-32%.
Ngấn sách y tế địa phương có kết cấu khác: 72-75% dành cho bệnh
viện, kinh phí phòng bệnh chỉ chiếm khoảng 25-28%.
Tính chung, NSNN Việt Nam dành 40% chi cho hoạt động khám chữa
bệnh của các bệnh viện công.
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y
TẾ.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
Quản lý sử dụng kinh phí trong bệnh viện là một nội dung của chính
sách kinh tế-tài chính Y tế do Bộ Y tế chủ chương, với trọng tâm là sử dụng
các nguồn lực đầu tư cho ngành y tế để cung cấp các dịch vụ y tế nhân dân
một cách hiệu quả và công bằng. Tính hiệu quả chú trọng đến trình độ trang bị
kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và
chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân. Tính công bằng đòi hỏi cung
cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người có cùng mức bệnh tật như nhau.
Nói cách khác là ai có nhu cầu cần được chăm sóc y tế nhiểu hơn thì được đáp
ứng nhiều hơn. Công bằng còn có nghĩa phải tính đến sự ưu tiên, sự quan tâm
hơn trong chăm sóc một số đối tượng xã hội, ai chịu sự thiệt thòi về điều kiện
hưởng thụ các phúc lợi xã hội thì phải được quan tâm nhiều hơn, thoả mãn
nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi
phí nhất định mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện
tiên quyết.
Định nghĩa: Quản lý sử dụng kinh phí trong bệnh viện ở Việt Nam
được hiểu là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn (Vốn do NSNN cấp, vốn
viện trợ, vốn vay và các nguồn vốn khác), tài sản, vật tư của bệnh viện để
phục vụ nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế phải đảm bảo
các yếu cầu sau:
- Nâng cao chất lượng kế hoạch hoá hoạt động của bệnh viện, kế hoạch
hoạt động chuyên môn phải gắn với kế hoạch đảm bảo vật chất, hậu cần, với
dự toán tài chính của bệnh viện, xác lập chính xác các ưu tiên trong điều kiện
các nguồn lực đầu tư luôn bị hạn chế.
- Đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên về chuyên môn của bệnh
viện, đồng thời tập trung kinh phí để từng bước giải quyết được những hoạt
động ưu tiên đã được xác lập trong kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của bệnh
viện.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
- Quản lý chặt chẽ thu chi tài chính; thực hành tốt công tác kế toán,
phân tích hoạt động kinh tế; xác lập vai trò của công tác tài chính-kế toán là
công cụ đắc lực để quản lý kinh tế bệnh viện.
Nội dụng của quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế
Căn cứ vào thông tư số 103/1998/TT - BTC của Bộ Tài chính về hướng
dẫn việc phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán NSNN thì nội dung của quản
lý sử dụng kinh phí tại các đơn vị sự nghiệp y tế gồm 3 khâu:
- Lập dự toán chi cho năm kế hoạch.
- Chấp hành dự toán chi.
- Quyết toán chi cho năm báo cáo.
1.3.1. Khầu lập dự toán chi.
Dự toán chi cho năm kế hoạch ở các đơn vị sự nghiệp y tế là một bộ
phận rất quan trọng trong chu trình quản lý sử dụng kinh phí ở bệnh viện và
khi lập dự toán chi phải dựa trên những căn cứ sau:
- Nhiệm vụ phát triển ở các đơn vị sự nghiệp y tế cụ thể của năm kế
hoạch và những chỉ tiêu phản ánh nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động của viện.
Căn cứ này giúp cho công tác xây dựng kế hoạch chi có một cách nhìn tổng
quát về những mục tiêu nhiệm vụ phải thực hiện trong năm kế hoạch. Đồng
thời nó giúp cho việc khai thác các nguồn thu cũng như việc sử dụng ngân
sách một cách đúng đắn hợp lý cho năm kế hoặch.
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN cho các đơn vị y tế do các
cấp có thẩm quyền quy định và khả năng nguồn kinh phí đáp ứng. Đây là căn
cứ theo quy định của luật ngân sách. Lập dự toán chi chỉ sát đúng với dự toán
của cơ quan cấp trên khi đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định
mức thu chi tài chính Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật. Từ đó đảm bảo
tính hợp pháp cho việc lập dự toán chi của bệnh viện.
- Những chỉ thị của cấp trên về việc xây dựng kế hoạch phát triển y tế
và dự toán chi cho năm sau. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về lập dự
toán chi ngân sách; văn bản hướng dẫn của Bộ; ngành; cơ quan liên quan.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
Căn cứ này đảm bảo cho khâu lập dự toán được thực hiện chính xác có cơ sở
khoa học, hợp thời gian,
- Số kiểm tra về dự toán chi cho các đơn vị sự nghiệp y tế do cơ quan
có thẩm quyền thông báo. Căn cứ này đảm bảo cho việc lập dự toán được
đúng kế hoạch.
- Tình hình thực hiện dự toán các năm trước, đặc biệt là năm báo cáo.
Hoạt động ngân sách thường diễn ra theo các quy luật nhất định trong từng
thời kỳ tương đối dài. Do vậy, các tài liệu phản ánh tình hình thực hiện ngân
sách các năm trước cho phép dự báo, dự kiến tình hình chi ngân sách của năm
kế hoạch theo các quy luật vận động của những năm trước, do đó dự toán có
tính thực tiễn cao.
Các công việc chủ yếu trong lập dự toán chi:
Công tác chuẩn bị:
Theo luật NSNN, công tác chuẩn bị lập dự toán hàng năm được tiến
hành vào cuối quý II và đầu quý III của năm báo cáo với các công việc chủ
yếu sau:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi cho đơn vị sự nghiệp y tế 6
tháng đầu năm và ước thực hiện 6 tháng cuối năm. Kết quả này là căn cứ thiết
thực để xây dựng dự toán chi sự nghiệp y tế năm kế hoạch.
- Soạn thảo phổ biến các thông tư, chỉ thị hướng dẫn về phương hướng
nhiệm vụ công tác chi ngân sách năm kế hoạch, các biện pháp nghiệp vụ chủ
yếu, cách thức và thời gian hoàn thành công tác lập dự toán chi.
- In ấn, phát hành hệ thống mẫu biểu phục vụ cho công tác lập dự toán
chi cho sự nghiệp y tế.
- Giao số kiểm tra cho các cấp, các ngành, các đơn vị tham khảo.
Cách lập:
Dựa vào văn bản hướng dẫn của chính phủ, hàng năm Bộ Tài chính sẽ
lập định mức chi hành chính để phân bổ cho các đơn vị y tế làm cơ sở tính
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
toán cho các chỉ tiêu chi năm kế hoạch. Bước này còn được gọi là xác định và
giao số kiểm tra từ Bộ Tài chính (hoặc cơ quan chủ quản).
Tại các cơ sở y tế: Căn cứ vào tình hình thực hiện những năm trước gần
nhất; căn cứ vào chính sách, chế độ chi ngân sách cho y tế hiện hành và dự
kiến những biến động có thể có trong năm kế hoạch, cùng với các văn bản
hướng dẫn và số kiểm tra được giao, tiến hành xác định tính toán các nội
dung chi cụ thể của đơn vị mình. Khi đã xác định đầy đủ các chỉ tiêu chi, tiến
hành lập bản kế hoạch được phân định theo mục lục ngân sách gửi lên cơ
quan quản lý cấp trên (Bộ y tế) và cơ quan tài chính đồng cấp xem xét.
Qua việc lập kế hoạch chi ngân sách mà thẩm tra, tính toán một cách
chặt chẽ, kỹ lưỡng khả năng và nhu cầu về tài chính cho đơn vị mình. Từ đó
phát huy được ưu thế, thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn,
trở ngại trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nó đặt cơ sở nền tảng
cho các khâu tiếp theo. Vì vậy, nếu khâu lập ngân sách được thực hiện chính
xác có cơ sở khoa học, hợp thời gian, sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho
khâu tiếp theo đặc biệt là khẩu chấp hành dự toán chi cho sự nghiệp y tế.
Với trình tự tiến hành như trên thì nó vừa đảm bảo tính khoa học, vừa
đảm bảo tính thực tiễn, đồng thời nó thể hiện rõ sự tôn trọng nguyên tắc thống
nhất, tập trung dân chủ trong quản lý sử dụng kinh phí ở bệnh viện, giúp quá
trình quản lý bệnh viện được tốt hơn, hiệu quả hơn.
1.3.2. Khầu chấp hành dự toán chi cho sự nghiệp y tế.
Mục đích của chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn
kinh phí của NSNN cho hoạt động y tế và thực hiện các chương trình đã được
hoạch định trong năm kế hoạch. Thực chất của khâu chấp hành dự toán chi là
tổ chức việc sử dung kinh phí sao cho tiết kiệm và hiệu quả cao.
Để đạt được mục đích đó, trong việc chấp hành dự toán chi cần phải
thực hiện các yêu cầu và nội dung cơ bản sau:
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
- Thực hiện việc sử dụng kinh phí trên cơ sở hệ thống các định mức
tiêu chuẩn. Để đạt được yêu cầu này, cần rà soát bổ sung những định mức
mới, xoá bỏ những định mức lạc hậu, đảm bảo cho hệ thống định mức, tiêu
chuẩn có tính khoa học, tính thực tiễn cao.
- Đảm bảo việc sử dụng kinh phí theo kế hoạch đã được duyệt. Để làm
được điều này thì khâu lập dự toán chi cần phải cụ thể, chi tiết tới từng bộ
phận, biết trước những phát sinh có thể xảy ra để xác định mức chi cho đúng,
đây là việc làm không hề đơn giản.
- Triệt để việc thực hiện thanh toán trực tiếp qua kho bạc nhà nước.
Mọi khoản kinh phí chi trả từ NSNN của các đơn vị y tế phải do kho bạc trực
tiếp thanh toán. Có như vậy mới quản lý tốt được nguồn vốn của bệnh viện.
Trong quá trình sử dụng kinh phí, kho bạc nhà nước phối hợp với Bộ Y
tế và các đơn vị có liên quan để tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành
chế độ chính sách chi tiêu tại Bệnh viện, giúp cho quá trình quản lý sử dụng
kinh phí tại các đơn vị đạt hiệu quả cao.
1.3.3. Công tác quyết toán chi năm báo cáo.
Sau khâu chấp hành sử dụng kinh phí, cuối năm tại các đơn vị sự
nghiệp y tế phải có báo cáo tổng kết trình lên Bộ y tế. Đây là khâu cuối cùng
trong một chu trình quản lý các khoản chi ngân sách cho đơn vị. Nó chính là
quá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau
một kỳ chấp hành dự toán để phân tích đánh giá kết quả chấp hành dự toán.
Tự rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp
theo. Bởi vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi cho y tế phải chú ý tới
các yêu cầu cơ bản sau:
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo
cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã quy
định.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
- Số liệu trong các báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực.
Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán
được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách đã quy định.
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp và của ngân
sách các cấp chính quyền trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê chuẩn, phải có xác nhận của KBNN đồng cấp và phải được cơ quan nhà
nước kiểm tra.
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình
trạng quyết toán chi lớn hơn thu.
Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết
toán chi cho y tế mới được tiến hành thuận lợi. Đồng thời, các yêu cầu này
mới tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự
toán một cách chính xác, trung thực và khách quan.
Các loại báo cáo năm ở đơn vị sự nghiệp y tế:
Cuối mỗi kỳ báo cáo, các đơn vị dự toán phải lập các loại báo cáo quyết
toán sau:
+ Bảng cân đối tài khoản - Mẫu B01- H.
+ Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng-Mẫu
B02 - H.
+ Chi tiết kinh phí chi hoạt động đề nghị quyết toán - phụ biểu F02 -
1H.
+ Bảng đối chiếu hạn mức kinh phí - phụ biểu F02 - 3H.
+ Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định - Mẫu B03 - H.
+ Báo cáo kết quả hoạt động sự nghiệp có thu - Mẫu B04 - H.
+ Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu B05 - H.
Chính vì vậy, hiệu quả của việc quản lý sử dụng kinh phí cho sự nghiệp
y tế không chỉ được xem xét trên giác độ, mức độ, phạm vi, cơ cấu, nội dung
chi mà còn xem xét đến cả quy trình quản lý chi. Một quy trình quản lý chi
hợp lý, có khoa học sẽ góp phần tăng cường quản lý chi cho sự nghiệp y tế.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
1.4. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
Y TẾ.
Hàng năm các đơn vị sự nghiệp y tế được Nhà nước cấp và cho phép sử
dụng một khoản kinh phí nhất định. Để đảm bảo các khoản kinh phí này được
sử dụng một cách đúng đắn và có hiệu quả thì cần phải tuân theo các nguyên
tắc sau:
1.4.1. Nguyên tắc quản lý theo dự toán.
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách. Những khoản
chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và được cơ quan quyền
lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản
lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ
quan chức năng quản lý tài chính Nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN.
Từ đó làm nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán.
Việc đòi hỏi quản lý chi thường xuyên theo dự toán là xuất phát từ
những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
Thứ nhất: Hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu - chi của ngân
sách phụ thuộc vào sự phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước đó. Do
vậy, mọi khoản chi từ NSNN có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản
chi đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực Nhà
nước xét duyệt và thông qua.
Thứ hai: Phạm vi chi tại mỗi đơn vị rất đa dạng liên quan tới nhiều loại
hình, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mức chi cho mỗi loại hoạt động
được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng. Hoạt động nào phát sinh
liên lục mang tính lặp lại thì xếp chi phí cho hoạt động đó vào chi thường
xuyên.
Thứ ba: Có quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối
của NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng ngân sách ở các đơn vị
sự nghiệp y tế, hạn chế được tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ
hưởng.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét