- 5 -
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFTA: ASEAN Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
BTA: Bilaterial Trade Agreement - Hiệp định thương mại song phương
CNPT: Công nghiệp phụ trợ
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
IMF: International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế
FDI: Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngòai
FIAS: Foreign Investment Advisory Service
GATT: General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại
GTGT: Giá trị gia tăng
MDPF: Mekong Project Development Facility
MFN: Most Favoured Nation – Đãi ngộ tối huệ quốc
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMVN: Ngân hàng thương mại Vi
ệt Nam
MNC: Multi-National Corportion – Công ty đa quốc gia
NSNN: Ngân sách nhà nước
NT: Nation Treament – Đãi ngộ quốc gia
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTTC: Thị trường tài chính
WB: World Bank - Ngân hàng thế giới
WTO: World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới
- 6 -
DANH MỤC CÁC BẢNG
Ký hiệu Nội dung Trang
Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành (1988 – 2006) 25
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương (1988 - 2006) 26
Bảng 2.3
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư (1988–2006)
28
Bảng 2.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư 30
Bảng 2.5
Vốn sản xuất, kinh doanh bình quân hàng năm của doanh
nghiệp phân theo lọai hình doanh nghiệp
31
Bảng 3.1 Diễn giải mức thuế bình quân cam kết 56
BẢNG PHỤ LỤC
Bảng phụ lục 1: Danh sách các thành viên WTO
Bảng phụ lục 2: 10 địa phương dẫn đầu thu hút FDI năm 2006
Bảng phụ lục 3: Số doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2004 phân theo quy mô vốn và
loại hình doanh nghiệp
Bảng phụ lục 4: Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán gia
nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng
Bảng phụ lục 5: So sánh môi trường FDI của Việ
t Nam, ASEAN và Trung quốc
- 7 -
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toàn cầu hoá và khu vực hóa đã trở thành một trong những xu thế chủ yếu của
quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học - kỹ thuật cùng
với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
chuyên môn hóa, hợp tác giữa các quốc gia và làm cho việc sản xuất được quốc tế hoá cao
độ. Hầu hết các nướ
c đều điều chỉnh chính sách của mình theo hướng mở cửa, giảm và
tiến tới tháo bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, khiến cho việc trao đổi hàng hóa và
luân chuyển các nhân tố sản xuất như vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng
thông thóang hơn. Để tránh ở ngoài lề sự phát triển, các nước đang phát triển phải nỗ lực
hội nhập vào xu thế chung và tăng cường sức cạnh tranh kinh tế.
Vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu trong tổng vốn đầu tư kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia, là điều kiện cần thiết để khai thác và phát triển nguồn lực trong
nước. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày
càng trở nên quan trọng. Đối với các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam
nói riêng, FDI có ý nghĩa hơn, th
ể hiện ở vai trò quan trọng trong hoạt động cung cấp vốn,
công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra những năng lực sản xuất mới, nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế.
Gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một trong những nhiệm vụ
quan trọng nhất của Việt Nam trong tiến trình hội nh
ập kinh tế quốc tế. Trong thời gian
qua, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong hợp tác
song phương và đa phương. Hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh t
ế của đất nước như mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn ĐTNN,
- 8 -
tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, góp phần giải quyết các vấn đề xã
hội.
FDI đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có
tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
mở rộng đa dạng các ngành nghề, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ của đất
nước, mở rộng thị
trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan
hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài trong việc phát triển của Việt
Nam, và để kinh tế của Việt Nam có thể phát triển vững chắc sau khi Việt Nam gia nhập
WTO, việc chọn đề tài “Các giải pháp tài chính nhằ
m tăng cường khả năng thu hút
FDI sau khi Việt Nam gia nhập WTO” mang tính thiết thực cao đối với chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu thực trạng tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngòai
(FDI) tại Việt Nam trong thời gian sau khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường
và ban hành Luật ĐTNN ngày 28/12/1987 đến năm 2006 và qua đó đề
xuất một số giải
pháp tài chính nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn ĐTNN cho Việt Nam trong thời
gian tới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu
hút FDI, phạm vi nghiên cứu là toàn lãnh thổ nước Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậ
t biện chứng
kết hợp với phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích….
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá thực trạng dòng vốn FDI tại Việt Nam, xu hướng vận động của dòng vốn
này trong bối cảnh nền kinh tế nước ta. Hiện nay Việt Nam có nhiều thay đổi về kinh tế,
đặc biệt những thay đổi lớn về kinh tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO, để t
ừ đó đề ra
- 9 -
những giải pháp thu hút nguồn vốn này cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
6. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn được chia làm 3 chương có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầ
u tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong
thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu hút FDI tại Việt Nam
sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
- 10 -
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) ngày càng có vai trò
quan trọng trong việc phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới, nhất là đối với các nước
đang phát triển. Đối với nhiều quốc gia, FDI được xem là nguồn ngoại lực tài trợ chính
cho quá trình phát triển kinh tế.
Có nhiều định nghĩa về đầu tư
trực tiếp nước ngoài:
1 Theo ngân hàng thế giới (WB) thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc công
dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản
lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác”. Các
nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và hoạt
động đầu tư có thể do người n
ước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh
giữa nhà ĐTNN và các đối tác đầu tư địa phương. FDI không bao gồm các
hoạt động như cấp giấy phép, hợp đồng phụ và đầu tư chứng khoán trong đó
nhà ĐTNN không giữ vai trò chi phối hoặc kiểm soát chủ yếu.
2 Theo Luật đầu tư của Việt Nam năm 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản h
ữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật có liên quan. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu
tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đặc điểm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhà đầu tư vừa là người chủ
sở
hữu, vừa là người sử dụng vốn đầu tư cho nên tính tự chủ của nhà đầu tư cao và tính
khả thi của dự án lớn. Đội ngũ doanh nhân trong nước có thể khai thác các quan hệ vốn có
- 11 -
của nhà đầu tư để tiếp cận với thị trường nước ngoài. Đồng thời, FDI là đầu tư của tư nhân
cho nên thường không dẫn đến các khoản nợ nước ngoài của chính phủ.
FDI có thể thực hiện theo các hình thức như hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài, Bên cạnh đó, FDI có thể được thực hiện thông qua các phương thứ
c như khu công
nghiệp tập trung, khu chế xuất, hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (B.O.T), hợp
đồng xây dựng – chuyển giao (B.T), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành
(B.T.O)…
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Mặt tích cực
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
- Tạo nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: các nước đang phát
triển, thậm chí các n
ước phát triển, cũng thường có tình trạng thiếu vốn cho đầu tư và sản
xuất. Việc khan hiếm đồng vốn đồng nghĩa với sự tồn tại nhiều cơ hội đầu tư có tiềm năng
thu lợi nhuận cao. Bằng việc mở cửa tiếp nhận FDI, bài toán về nguồn vốn đầu tư cho phát
triển kinh tế được giải quyết hoàn hảo hơn, bởi FDI th
ường không trực tiếp làm tăng nợ
nước ngoài của quốc gia. Vốn di chuyển làm tăng lượng tiền và tài sản nước ngoài trong
nền kinh tế, do đó cải thiện cán cân về vốn nói riêng và cán cân thanh toán nói chung.
Đồng thời, việc di chuyển vốn này còn có tác dụng tăng đầu tư của nền kinh tế cho nên
góp phần tăng GDP.
- Tạo điều kiện tiếp cận phương thức quản lý và kỹ thuật công nghệ hiệ
n đại: trong
các dòng vốn du nhập vào nước ta, FDI có khả năng đem theo các công nghệ mới và sử
dụng chúng có hiệu quả hơn cả. Một đặc trưng của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là
thường không muốn sử dụng công nghệ kỹ thuật có sẵn tại nước tiếp nhận đầu tư khi hợp
tác, liên doanh. Không những thế, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn trực tiếp
điều hành
doanh nghiệp, họ thường đem áp dụng các kỹ thuật quản lý hiện đại nhằm tối đa hóa hiệu
quả công việc. Rõ ràng, đây là con đường ngắn nhất và cũng hiệu quả nhất giúp các nước
đang phát triển học hỏi và vận dụng những kỹ năng kinh doanh của thế giới.
- 12 -
- Tạo điều kiện cho các nước đang phát triển tiếp cận thị trường quốc tế, từng bước
hội nhập kinh tế quốc tế. Một điểm lý thú là ở một số doanh nghiệp FDI, nhà đầu tư trực
tiếp nước ngoài kiêm luôn vai trò người tiêu thụ sản phẩm. Với kinh nghiệm từ môi
trường cạnh tranh cao, họ mang theo các cơ hội mở rộng xuất khẩu (do đ
ã thiết lập sẵn
những mối quan hệ làm ăn trước khi vào Việt Nam) hoặc các kỹ năng marketing ở cấp độ
chuyên nghiệp. Điều này đặc biệt đúng đối với nhà đầu tư là các công ty đa quốc gia
(Multi-National Corporation – MNC). Đây cũng là một thuận lợi giúp các đối tác Việt
Nam làm quen với việc tiếp cận thị trường nước ngoài, từng bước hội nhập với kinh tế khu
vự
c và thế giới.
- Tạo điều kiện cho các nước đang phát triển khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh
về tài nguyên và những ngành nghề có lợi thế so sánh, khuyến khích và nâng cao hiệu quả
đầu tư trong nước. Khu vực FDI với công nghệ sản xuất tiên tiến sẽ cho phép khai thác
hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên và ngành nghề có lợi thế so sánh, đồng thời nó cũng
tạo ra sự cạnh tranh cần thiết thúc
đẩy doanh nghiệp trong nước tăng cường đổi mới công
nghệ, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Góp phần giải quyết lao động tại các nước đang phát triển. Nhờ sự hiện diện của
các doanh nghiệp FDI, tổng cầu lao động được nâng cao, qua đó một lượng lớn lao động
chưa có việc làm được giải quyết. Hơn thế, khu vực FDI sẽ tạo ra một đội ngũ những nhà
lãnh đạo b
ản địa có năng lực và công nhân có tay nghề cao.
- Tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước (NSNN). Doanh nghiệp FDI
chiếm tỷ trọng ngày càng cao về kim ngạch xuất, nhập khẩu. Quá trình hoạt động của họ
gắn liền với việc nộp thuế, phí và lệ phí theo quy định nhà nước. Đây là một nguồn thu
không nhỏ đối với NSNN xét về hiện tại lẫn lâu dài.
Đối với chủ đầu tư trực tiế
p nước ngoài:
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đa phần thuộc các nước phát triển, nơi phổ
biến có lượng vốn lớn, tỷ lệ thu nhập và tiết kiệm cao, tỷ lệ “vốn/lao động” cũng cao, thậm
chí rất cao, làm cho hiệu quả biên tế của đồng vốn thấp. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả là một
mặt sẽ làm hạn chế các c
ơ hội đầu tư có khả năng sinh lời cao ở chính quốc, mặt khác thúc
- 13 -
đẩy dòng vốn chảy tới những nơi có khả năng sinh lời cao hơn ở nước ngoài, một trong
những nơi hấp dẫn đó chính là các nước đang phát triển.
Theo báo cáo của liên hợp quốc, khoảng 90% lượng FDI trên thế giới xuất phát từ
các công ty đa quốc gia. Việc đầu tư tiến hành thông qua sự thành lập một công ty con hay
chi nhánh của công ty mẹ ở nước sở tại, nhằm khai thác những lợi thế
về tài nguyên, nhân
công và thị trường của các nước đang phát triển với mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Mục
tiêu lợi nhuận có thể đạt được thông qua việc khai thác thị trường nội địa của các nước
tiếp nhận đầu tư.
1.1.2.2 Mặt tiêu cực
Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, FDI cũng tạo ra một số tiêu cực nhất
định cho nướ
c tiếp nhận đầu tư như:
- Cơ cấu ngành nghề phát triển không đồng đều do mục tiêu chạy theo lợi nhuận,
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chỉ tập trung đầu tư vào một số ngành và vùng có
nhiều thuận lợi. Thậm chí, ở một số ngành nghề, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẵn sàng
đẩy các nhà đầu tư trong nước đến chỗ phá sản để
độc chiếm thị trường.
- Khai thác và sử dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên. Do chạy theo lợi
nhuận, các nhà ĐTNN thường triệt để khai thác và tìm mọi biện pháp để sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. Điều này có thể đẫn đến hậu quả làm cạn kiệt các nguồn tài
nguyên này.
- Nước tiếp nhận đầu tư trở thành “bãi rác kỹ thuật” do phải đón nhận công nghệ
lạc hậu đã bị
thải hồi từ các nước đầu tư phát triển.
- Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhà ĐTNN và cạnh tranh không cân sức giữa
doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI có thể làm phá sản doanh nghiệp và gây
thất nghiệp. Các doanh nghiệp trong nước chưa tiếp cận kịp thời với những thay đổi nhanh
chóng của công nghệ hiện đại, sản phẩm chất lượng thấp, khó tiêu thụ, thiếu hiểu bi
ết về
thị trường nước ngoài cũng như thiếu các quan hệ với các bạn hàng nước ngoài đã làm
tăng khả năng xảy ra rủi ro đối với các hoạt động kinh doanh trong khi các đối tác nước
ngoài có kỹ năng quản lý hiện đại, công nghệ cao, có khả năng sản xuất sản phẩm chất
lượng cao, thương hiệu nổi tiếng và mạng lưới quan hệ rộng lớn với các đố
i tác nước
- 14 -
ngoài. Hơn nữa các nhà ĐTNN thường là những người có kỹ năng và kinh nghiệm quản lý
tiên tiến, có chiến lược hoặc các “thủ đoạn, mánh khóe” kinh doanh tinh vi để giành thị
trường nước sở tại, gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư như bán phá giá,
tăng chi phí quảng cáo, cạnh tranh gay gắt, buôn lậu, trốn thuế, chuyển hoạt động đầu tư
sang buôn bán thiết bị, máy móc, phương tiện…Đây là y
ếu tố có thể dẫn đến các hoạt
động lũng đoạn thị trường diễn ra sau đó. Các doanh nghiệp trong nước chưa thích ứng
được với tác động này có thể bị phá sản và dẫn đến tình trạng thất nghiệp của công nhân
làm việc tại các doanh nghiệp này.
- Phát sinh các xung đột trong quan hệ chủ - thợ gây ảnh hưởng đến môi trường lao
động trong doanh nghiệp. Do có sự khác biệt về các quan niệm và chuẩn mực trong hệ
thống quản lý , bản sắc văn hóa, thời gian, kỷ luật lao động, hệ thống trả lương giữa các
doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI mà những công nhân làm việc trong các
doanh nghiệp FDI thường có hiện tượng không hài lòng với cách xử sự của giới chủ, giới
chủ áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để bóc lột nhân công như bắt công nhân làm thêm
giờ, làm ngoài giờ, cắt giảm tiền lương, tăng cường độ lao độ
ng….Vì thế, xuất hiện tình
trạng xung đột giữa giới chủ và người lao động. Điều này có thể gây ra những biến động
nhất định trên thị trường lao động, ảnh hưởng đến sự vận hành của các doanh nghiệp, làm
tăng thêm chi phí và rủi ro đối với hoạt động đầu tư.
- Xuất hiện hiện tượng chuyển giá giữa các chi nhánh trong các MNC. Các MNC
thường áp dụng chính sách chuyển giá để thu lợi nhuậ
n. Các linh kiện và các bộ phận sản
phẩm được công ty mẹ đặt giá cao khi chuyển sang công ty con ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ
làm giảm lợi nhuận ở chi nhánh, thậm chí gây ra các khoản lỗ. Nước sở tại có thể bị mất
một khoản tiền lớn về thuế từ nhà ĐTNN và làm giảm lợi ích người tiêu dùng do người
tiêu dùng trong nước phải mua hàng với mức giá cao. Đây là yếu tố làm gi
ảm lợi ích của
nước tiếp nhận đầu tư và gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà
ĐTNN với các nhà đầu tư trong nước.
- Làm phát sinh tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và chảy
máu chất xám từ khu vực kinh tế trong nước sang khu vực kinh tế có vốn FDI.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét