- Ngoài ra việc lựa chọn địa điểm còn ảnh hưởng đến dân cư,địa bàn,môi trường sống
3. Nội dung của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
3.1 Đầu tư vào hàng dự trữ và tạo ra tài sản cố định.
a) Hàng dự trữ
Ta có thể nói một cách đơn giản hàng dự trữ của doanh nghiệp bao gồm tồn kho nguyên
vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Tuy nhiên trên thực tế để nghiên cứu kĩ về vấn đề này
cần phải tiếp cận nó ở những góc độ khác nhau và đặt trong những mối quan hệ cụ thể.
* Nguyên nhân cần thiết phải đầu tư vào dự trữ:
Xuất phát từ vai trò của hàng dự trữ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ta
có thể nó được sử dụng để đảm bảo sự ổn định cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Vì vậy đàu tư vào hàng dự trữ lag việc không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp: Dựa trên cơ sở lý luận, vai trò của hàng dự trữ có bốn mặt chủ yếu, biểu
hiện cụ thể ở bốn loại hàng tồn kho cơ bản:
- Quay vòng tồn kho: mỗi khi sản xuất và đặt hàng là một lần đặt ra số lượng lô nhất định, mà
không phải là mỗi lần một lô, kiểu tồn kho được hình thành từ tính chu kỳ của số lượng lô được
gọi là quay vòng tồn kho.
- Lượng tồn kho dự phòng: hay còn gọi là lượng tồn kho bảo hiểm, là lượng tồn kho nhất định
mà nhà sản xuất chuẩn bị để ứng phó với tính không ổn định của nhu cầu và tính không ổn định
của cung ứng, nhằm tránh sự tổn thất do thiếu hàng gây nên. Nếu như nhà sản xuất có thể dự
toán được về sự thay đổi về nhu cầu trong tương lai hoặc có thể xác định được số lượng và thời
gian hàng tương ứng, thì không cần phải thiết lập lượng tồn kho dự phòng. Số lượng tồn kho dự
phòng ngoài việc chịu ảnh hưởng của sự bất ổn định về nhu cầu và cung ứng, còn liên quan đến
việc doanh nghiệp hy vọng đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Đây là nhân tố xem xét
chính khi đưa ra quyết sách cề lượng tồn kho dự phòng.
- Tồn kho vận chuyển: là sự tồn kho giữa hai đơn vị công tác hoặc hai tổ chức tiêu thụ gần
nhau, bao gồm lượng tồn kho trong quá trình vận chuyển và lượng tồn kho tạm dừng giữa hai
nơi.Tồn kho vận chuyển được quyết định bởi số lượng lô vận chuyển và thời gian vận chuyển.
- Lượng tồn kho dự định theo thời kỳ: do đặc điểm mang tính thời vụ của nhu cầu hoặc tính
thời vụ của việc mua sắm, nên doanh nghiệp buộc phải sản xuất, tích trữ và bán hàng vào mùa
bán ế để duy trì và tăng cường phục vụ khách hàng vào mùa bán hàng chạy, hoặc tăng cường
lượng tồn kho của mùa thu hoạch. Do vậy, nguyên nhân quyết định lượng tồn kho dự định theo
thời kỳ, ngoài chi phí mang tính cơ hội của việc khan hàng hết hàng, còn phải xét đến chi phí
tăng thêm khi sản xuất ổn định (chi phí khấu hao, khi thiết bị sản xuất ngừng nghỉ, lương công
nhân rảnh rỗi và các chi phí phát sinh khác…).
Dựa trên cơ sở thực tiễn, vai trò của hàng dự trữ được biểu hiện trong mối quan hệ giữa
việc khống chế lượng hàng dự trữ trong kho và hai loại nhu cầu: nhu cầu độc lập và nhu cầu
phụ thuộc:
-Nhu cầu độc lập: là nhu cầu do thị trường quyết định .Ví dụ: nhu cầu đối với các thành phẩm
như xe ô tô, máy giặt gia dụng và linh kiện dễ hỏng như tấm phanh xe, vòng đệm cao su.
5
Những nhu cầu này lúc nào thì sẽ nảy sinh? Mỗi lần bao nhiêu? Không theo kế hoạch sắp xếp
của doanh nghiệp, nó được gọi là nhu cầu độc lập. Tuy nhiên với phạm vi dao động và xu
hướng thay đổi nhất định trong một khoảng thời gian cùng những đặc trưng thay đổi, nhu cầu
này có thể dự đoán thông qua những số liệu lịch sử và các nhân tố tương quan khác.
-Nhu cầu phụ thuộc: Là nhu cầu do nhu cầu của sản phẩm cuối cùng hoặc hạng mục khác quyết
định, nó có thể đoán trước và có thể khống chế được. Ví dụ như: với một số lượng máy giặt cần
sản xuất cho trước, thì số lượng nhu cầu của nguyên vật liệu hoặc linh kiện như thùng giặt, máy
định giời, động cơ điện, hoàn toàn có thể được quyết định căn cứ vào linh kiện, vì vậy nó được
gọi là nhu cầu phụ thuộc.
Tóm lại: Nhu cầu xuất phát từ bên ngoài doanh nghiệp hay từ thị trường là nhu cầu độc lập,
còn gọi là nhu cầu khách hàng, những nhu cầu này nảy sinh từ yêu cầu sản xuất bên trong
doanh nghiệp gội là nhu cầu phụ thuộc, hay còn gọi là nhu cầu sản xuất. Nhu cầu độc lập có
tính tuỳ cơ ứng biến cho nên chỉ có thể dựa trên dự đoán để tính toán. Nhu cầu phụ thuộc có
tính xác định, đặc trưng thay đổi theo thời gian đã được biết trước, vì vậy không cần dự đoán
mà chỉ cần xác định theo kế hoạch sản xuất. Đáp ứng sự khác nhau về mặt tính tồn kho của hai
loại nhu cầu. Tức là do tính chất tuỳ cơ của nhu cầu độc lập mà ta cần phải thiết lập lượng tồn
kho dự phòng nhằm tránh tổn thất do thiếu hàng. Do tính xác định của nhu cầu phụ thuộc, về
mặt lý thuyết thì không cần thiết lập lượng tồn kho dự phòng, hơn nữa lý tưởng nhất là tất cả
những lượng tồn kho sản xuất đều nên ơe dạng bán thành phẩm. Chính sự khác nhau này đã
quy định số lượng từng loại hàng dự trữ ở những thời điểm khác nhau của chu kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp. Đồng thời khẳng định lại vai trò rất quan trọng của hàng dự trữ và vấn đề
khống chế hàng dự trữ trong việc quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí, ổn định sản xuất và đáp ứng
nhu cầu luôn biến đổi của khách hàng.
* Đầu tư vào hàng dự trữ có thể có thể được phân thành 2 loại chi phí chủ yếu sau:
- Chi phí bảo tồn hàng được tạo bởi:
+ Chi phí cơ hội sử dụng vốn: thông thường được xác định dựa trên tỷ lệ lãi suất đầu tư, trong
tình huống đơn giản hoá, có thể sử dụng tỷ lệ lãi suất với kỳ hạn tương ứng để thay thế.
+ Chi phí bảo hiểm và chi phí hao mòn cơ sở hạ tầng kho bãi…
+ Chi phí mất mát, hư hỏng và không có hiệu quả của hàng tồn. Chi phí về mặt này sữ có sự
chênh lệch rất lớn dựa trên tính chất khác nhau của hàng tồn, ví dụ như lỗi của hàng điện tử
tương đối cao, mà chi phí tổn thất của thực phẩm lại còn cao hơn.
Do chi phí cơ hội của vốn và chi phí hỏng hóc, mất hiệu quả luôn chiếm đa số tỷ lệ của phí
bảo tồn. Vi vậy các doanh nghiệp thường theo thói quen, đem chi phí bảo tồn thể hiện là hình
thức tỷ lệ thuận với giá cả mua bán của đơn vị hàng tồn.
- Chi phí đặt hàng: Là chi phí bình quân để xử lý nghiệp vụ đặt hàng, bao gồm các tư liệu kỹ
thuật sản phẩm cần thiết như sổ ghi chép, thông tin, phán đoán và lương nhân viên đặt hàng,
đặc điểm của nó là không liên quan đến số lượng hangf đặt. Trên lĩnh vực sản xuất, chi phí này
là chi phí chuẩn bị sản xuất và điển hình máy móc khi thay đổi linh kiện và tác nghiệp, gọi là
chi phí chuyển đổi tác nghiệp và chi phí lắp đặt.
-Chi phí thiếu hàng: Là những tổn thất do thiếu hàng gây nên. Từ góc độ bán hàng nếu thiếu
hàng cung cấp, khách hàng sẽ chuyển sang đặt hàng của doanh nghiệp khác, và hơn nữa, uy tín
6
của doanh nghiệp cũng bị tổn hại nghiêm trọng. Từ góc độ sản xuất, trong quá trình sản xuất,
thiếu hàng dẫn đến việc ngừng sản xuất đợi nguyên liệu, ứ đọng bán thành phẩm, kéo dài thời
gian giao hàng và dẫn đến ngưng ca…chi phí của nó được tính lần lượt với ảnh hưởng của hoạt
động tương ứng.
b) Tài sản cố định
Nghị định số 199/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/12/2004 về quy chế quản lý tài
chính của công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác có quy
định, tài sản của công ty Nhà nước bao gồm: tài sản cố định (tài sản cố định hữu hình, tài sản
cố định vô hình, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang và các
khoản ký cược, ký quỹ dài hạn); tài sản lưu động (tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các
khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản lưu động khác và chi sự nghiệp) mà công ty Nhà nước có
quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật.
Như vậy có thể thấy tài sản cố định hữu hình là một trong những tài sản quan trọng bậc
nhất của doanh nghiệp. Nó là những tư liệu lao động có thời hạn sử dụng tương đối dài và có
giá trị lớn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh hình thái vật chất của tài sản cố định hầu như
không thay đổi, còn giá trị giảm dần trong suốt thời gian tồn tại, do cả hao mòn hữu hình và hao
mòn vô hình.
* Phân loại tài sản cố định:
Nhà cửa và vật kiến trúc: Gồm nhà xưởng kho bãi, văn phòng và các công trình có cùng
mục đích. Chúng tạo ra không gian sản xuất, vận hành quản lý và lưu trữ hàng hoá hoặc nguyên
vật liệu. Là tài sản cố định có thời gian khấu hao khá dài, có thể lên đến 30, 50 năm.
Máy móc thiết bị công nghệ : Bao gồm tất cả máy móc thiết bị, hệ thống dây chuyền. Là bộ
phận tài sản cố định hữu hình có hàm lượng khoa học công nghệ cao và có sự đổi mới nhanh
chóng. Hiện nay những dây chuyền hiện đại được khấu hao chỉ trong vòng từ 2 đến 4 năm.
Phương tiện vận tải : Ngoài chi phí ban đầu chi phí vận hành, chi phí nhiên liệu xăng dầu
chiếm một tỷ trọng đáng kể và cần được tính đến trong quá trình vận hành.
Các công cụ, dụng cụ quản lý, thiết bị đo lường và kiểm định. Đây là các máy móc có giá trị
không lớn nhưng được khấu hao trong thời gian dài. Các máy móc văn phòng như máy vi tính,
máy in… đã giúp làm tăng năng xuất và hiệu quả quản lý. Đồng thời một hệ thống đo lường và
kiểm định hiện đại và chính xác sẽ giúp doanh nghiệp tạo nên những sản phẩm có chất lượng
và độ tin cậy cao.
* Vai trò của tài sản cố định hữu hình:
- Là một trong những cơ sở đầu tiên được hình thành trong quá trình từ thời điểm doanh
nghiệp bắt đầu đi vào sản xuất kinh doanh. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi bắt đầu đi vào hoạt
động cũng đều phải trải qua các giai đoạn tiền đề sau:
+ Chi phí ban đầu về đất đai: tiền thuê đất, mua đất, đền bù giải phóng mặt bằng.
+ Chi phí xây dựng, lắp đặt nhà xưởng công trình, hạ tầng cơ sở.
+ Chi phí mua sắm máy móc phương tiện vận tải.
7
+ Chi phí mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất.
+ Cùng với các chi phí khác, các chi phí cho tài sản cố định hữu hình thực sự trở thành một
trong những yếu tố không thể thiếu được trong quá trình hình thành, vận hành sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Một khi hệ thống nhà xưởng, văn phòng và vật kiến trúc không đảm bảo cho hoạt động sản
xuất kinh doanh và hoạt động quản lý, sẽ gây ra một sự cản trở rất lớn tới sự thành công của
doanh nghiệp. Do đặc điểm được sử dụng trong một thời gian dài nên tầm quan trọng của hệ
thống nhà xưởng lại càng lớn, cần phải tính toán một cách kỹ lưỡng để tránh gây ra những hậu
quả lâu dài.
- Đầu tư vào máy móc thiết bị công nghệ lại là một trong những hoạt động cần chú ý hàng
đầu. Nhất là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và thay đổi nhanh chóng
như hiện nay. Một dây chuyền công nghệ sản xuất thích hợp với các công nghệ mới đạt được
các hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp đạt được sản lượng lớn với giá thành thấp và chiếm lĩnh
được thị trường.
- Hệ thống phương tiện vận tải cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong rất nhiều doanh nghiệp, nó quyết định đến doanh số
bán hàng, khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu thị trường, đặc biệt với các doanh nghiệp kinh
doanh thương mại. Do đó các doanh nghiệp không những cần thiết phải chú trọng hoạt động
đầu tư cho hệ thống phương tiện giao thông vận tải mà còn phải chú trọng vấn đề bảo hiểm tài
sản, đặc biệt đối với cả các loại hình phương tiện vận tải đường thuỷ như tàu thuỷ xà lam cũng
như đối với các phương tiện cơ giới đường bộ thường xuyên phải đối mặt với các rủi ro khác.
3.2. Nội dung đầu tư phát triển cho tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp
a) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm:
+ Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch công trình chuẩn bị đầu tư
+ Chi phí thiết kế và xây dựng
+ Chi phí mua sắm lắp đặt thiết bị
+ Các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán và chi phí dự phòng( bằng 10 % tổng dự toán).
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản có thể chia ra theo các mục sau:
a. Chi phí xây dựng và lắp đặt bao gồm:
+ Chi phí phá huỷ tháo dỡ các vật kiến trúc cũ.
+ Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng.
+ Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công.
8
+ Chi phí xây dựng các hạng mục công trình như làm mới mở rộng cải tạo và khôi phục các
công trình xây dựng.
+ Chi phí lắp đặt thiết bị bao gồm việc lắp đặt trang thiết bị vật dụng, các hoạt động thăm dò
phục vụ cho hoạt động lắp đặt đó.
+ Các chi phí di chuyển thiết bị thi công và vật liệu, lực lượng xây dựng.
b. Chi phí mua sắm thiết bị máy móc bao gồm:
+ Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh
hoạt.
+ Chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho lưu bãi chi phí bảo
quản bảo dưỡng tại kho chi phí gia công sửa chữa chi phí kiểm tra thiết bị máy móc khi tiến
hành lắp đặt.
+ Các loại thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình cần thiết.
c. Chi phí liên quan đén đất đai:
+ Tiền thuê đất, hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất.
+ Chi phí đền bù và tổ chức thực hiên trong quá trinh đền bù.
b) Mua sắm tài sản cố định khác dùng cho hoạt động sản xuất
Doanh nghiệp cần ý thức được tầm quan trọng của việc mua sắm và đổi mới trang thiết bị
theo hướng hiện đại, nhập các máy móc thiết bị hoặc mua trong nước các loại máy trong nước
đã sản xuất được với giá cả và công nghệ phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp cũng như
điều kiện khí hậu, từng bước tăng tỷ lệ nội địa hoá của sản phẩm công nghệ.
Chi phí này bao gồm:
+ Chi phí cho thiết bị máy móc cần lắp toàn bộ hoặc từng bộ phận trên nền máy cố định.
+ Chi phí cho thiết bị không cần lắp đặt trên nền máy cố định.
+ Chi phí cho các máy móc thiết bị dụng cụ phục vụ cho quá trình quản lý, kinh doanh, báo cáo
tổng hợp
3.3. Vốn đầu tư sửa chữa lớn tài sản cố định
+ Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định: sửa chữa các tài sản hư hỏng sau một thời gian sử dụng
mà cần vốn lớn.
+ Chi phí nâng cấp tài sản cố định: Nâng cấp các tài sản cố định cho phù hợp với sự biến động
của khoa học công nghệ, giúp cải tiến sản phẩm tăng năng xuất để hạ giá thành, tăng hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp cả trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong hoạt động
quản lý.
9
3.4 Đầu tư vào nghiên cứu đổi mới và phát triển Khoa học công nghệ- kĩ thuật
Theo quan điểm hiện đại, có thể hiểu: đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển KHKT là
hình thức của ĐTPT nhằm hiện đại hoá dây chuyền công nghệ và trang thiết bị cũng như trình
độ nhân lực, tăng năng lực sản xuất kinh doanh cũng như cải tiến đổi mới sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ, đây cũng là hoạt động đầu tư vào lĩnh vực phần mềm của công nghệ như thông tin,
thương hiệu và thể chế doanh nghiệp.
Về ĐTPT phần cứng của KHKT_CN ở doanh nghiệp có nghĩa là hoạt động ĐTPT những
dây chuyền máy móc, trang thiết bị hiện đại. Trước tiên là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để
tiếp nhận dây chuyền máy móc thiết bị mới. Hai là thực hiện đầu tư vào việc nhập khẩu dây
chuyền sản xuất phù hợp. Ba là thực hiện việc tiếp nhận công nghệ của dây chuyền máy móc
trang thiết bị.Bốn là thực hiện việc nghiên cứu triển khai để có thể sản xuất dây chuyền máy
móc dựa vào công nghệ được tiếp nhận.
Về ĐTPT phần mềm của KHKT_CN ở doanh nghiệp có nghĩa là hoạt động ĐTPT nguồn
nhân lực, phát triển công nghệ bao gồm thương hiệu, bí quyết kinh doanh, uy tín…và phát triển
cơ cấu thể chế tổ chức
Về công nghệ cần tiến hành nội dung như sau: thứ nhất là doanh nghiệp có thể mua công
nghệ theo các cách khác nhau đó là:
+ Mua đứt công nghệ tức là công nghệ thuộc quyền sở hữu độc quyền của doanh nghiệp, doanh
nghiệp là người duy nhất có quyền quyết định về công nghệ đó. Từ đó doanh nghiệp có khả
năng sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ hiệu quả nhất, tốt nhất, tạo lợi thế cạnh tranh cao nhất
cho doanh nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế các doanh nghiệp nước ta hiện nay thực thi điều này
là rất khó, mặt khác việc mua đứt công nghệ thường gặp rủi ro lớn vì chưa hẳn công nghệ là tốt
nhất.
+ Mua quyền sử dụng công nghệ: doanh nghiệp thường áp dụng hình thức này bởi hình thức
này có ít rủi ro hơn và tốn ít chi phí hơn. Tuy nhiên doanh nghiệp phải chấp nhận đối thủ của
mình cũng sở hữu công nghệ như mình và sức ép cạnh tranh là rất lớn. Nhưng ít ra nó cũng
giúp cho doanh nghiệp có những lợi thế hơn so với những sản phẩm không có công nghệ đó
hoặc lợi thế giá thành do công nghệ giúp khai thác tối đa những nguồn lực mà đối thủ không
có.
+ Và ngoài ra doanh nghiệp còn có thể đầu tư vào nghiên cứu phát minh ra công nghệ mới hay
có sự cải tiến trong việc sử dụng hay tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Về nhân lực: cần tiến hành những nội dung cụ thể như dân chủ hoá KHKT_CN, xây
dựng một chiến lược tổng thể rõ ràng nhằm phát triển thị trường lao lao động theo hướng đẩy
mạnh tính hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động tự do dịch chuyển, hỗ trợ lao động có
chuyên môn kĩ thuật cao. Bên cạnh đó là những hoạt động ĐTPT nguồn nhân lực như mở lớp
đào tạo nhân lực, cử người đi học ở các quốc gia phát triển…
Về cơ cấu tổ chức và thể chế doanh nghiệp: để phục vụ cho phát triển KHCN cũng cần
tiến hành theo những nội dung như: đổi mới chính sách ưu đãi với các hoạt động nghiên cứu và
đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chế trích khấu hao TSCĐ và cơ chế trích lập quỹ ĐTPT của
doanh nghiệp…
10
Hoạt động ĐTPT KHKT_CN cũng là một hoạt động đầu tư phát triển. Do đó, hoạt động
này có những đặc điểm sau đây: về nguồn vốn ĐTPT KHCN đồi hỏi 1 số vốn lớn. Từ hoạt
động ĐTPT máy móc thiết bị hiện đại, đến việc ĐTPT nguồn nhân lực thông qua đào tạo …đều
đòi hỏi khối lượng vốn lớn. Do đó, về nguồn huy động vốn có thể là rất đa dạng, việc ĐTPT
KHCN không chỉ huy động nguồn vốn nội lực mà còn có thể huy động từ bên ngoài như ODA
hay FDI. Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Về thời gian
thì ĐTPT KHCN có thời gian thực hiện lâu dài và thời gian vận hành kết quả lâu dài. Về kết
quả của hoạt động đầu tư vào KHCN là những tài sản có giá trị lớn như những công trình khoa
học, trang thiết bị tiên tiến hay trình độ nguồn nhân lực
3.5 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để doanh nghiệp có thể đứng vững và dành
thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó trong các doanh nghiệp, công tác đào tạo và phát
triển cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch.
Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức
được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề
nghiệp của người lao động.
Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ
chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Các hoạt động đó có thể
được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí vài năm, tuỳ thuộc vào mục tiêu hcọ tập,
và nhằm tạo sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là
nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp cho họ. Như vậy, xét về nội dung phát triển
nhân lực bao gồm các hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển.
+ Giáo dục được hiểu là các hoạt động hcọ tập để chuẩn bị cho con người bước vào 1 nghề
nghiệp hoặc chuyển sang 1 nghề nghiệp mới thích hợp hơn trong tương lai.
+ Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng) được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp
cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính
là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những
hoạt động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
+ Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao
động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của
doanh nghiệp.
Các lý do chủ yếu để doanh nghiệp tiến hành phát triển nguồn nhân lực, đó là:
+ Để đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức hay nói cách khác là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
+ Để đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người lao động trong doanh nghiệp.
+ Đào tạo và phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lới thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp.
11
Khi doanh nghiệp đầu tư phát triển nguồn nhân lực thì doanh nghiệp đã mang lại cho
mình nhiều lợi ích trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình như:
+ Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc.
+ Nâng cao chất lượng của việc thực hiện công việc.
+ Giảm bớt sự giám sát vị người lao động được đào tạo có khả năng tự giám sát.
+ Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức.
+ Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực.
+ Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kĩ thuật và quản lý vào doanh nghiệp.
+ Tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
+ Ngoài ra, đối với người lao động thì phát triển nguồn nhân lực thể hiện ở chỗ: tạo ra được sự
gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động, tạo
ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như tương lai, đáp ứng nhu cầu
và nguyện vọng phát triển của người lao động, và tạo cho người lao động có cách nhìn cách tư
duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong
công việc.
Chính vì những lý do trên mà các doanh nghiệp hiện nay đã chú trọng vào phát triển
nguồn nhân lực, coi hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực như là một hoạt động thường
xuyên và quan trọng của doanh nghiệp.
Ở nước ta thì hầu hết các doanh nghiệp để phát triển nguồn nhân lực mới chỉ sử dụng các
biện pháp như: Tìm kiếm lao động đầu vào có chất lượng cao; Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ
lao động trong doanh nghiệp; Và nâng cao điều kiện làm việc cho người lao động. Tuy nhiên
trong các hình thức trên thì hình thức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động được áp dụng
nhiều trong các doanh nghiệp nhà nước, còn hình thức lựa chọn lao động đầu vào chất lượng
cao được sử dụng nhiều trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài.
3.6 Đầu tư vào hoạt động Marketing và tài sản vô hình khác
- Đầu tư vào hoạt động Marketing: Doanh nghiệp muốn cạnh tranh thắng lợi thì marketing
được nhiều người cho rằng là chức năng then chốt của thành công của doanh nghiệp: nhờ có
marketing dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, dự tính các hành động cho doanh nghiệp, hỗ trợ
bán hàng thông qua quảng cáo, khuyến mại,…Muốn vậy đòi hỏi phải:
+ Xác định rõ hướng đi: doanh nghiệp phải suy tính kỹ trước khi quyết định có nên đối đầu trực
tiếp với doanh nghiệp lớn hay không, nếu cảm thấy không có đủ nội lực thì chuyển hướng
khác.
+ Xác định thời gian đi: nếu doanh nghiệp đã xác định được hướng đi và nếu không phạm sai
lầm nào về kế hoạch tiếp thị cộng với một chút may mắn thì doanh nghiệp sẽ có được một
mảng thị phần,
12
+ Phạm vi triển khai: doanh nghiệp nên lựa chọn phương án triển khai trên phạm vi nào thì cần
phải cân nhắc rõ ràng.
+ Hiểu người tiêu dùng: Tiến hành nghiên cứu thị trường để am hiểu sâu sắc người tiêu dùng,
để thiết kế sản phẩm phù hợp với họ, và khác biệt với đối thủ.
+ Hệ thống phân phối mạnh
+ Bao bì bắt mắt và hoàn hảo
+ Chất lượng sản phẩm hoàn hảo
+ Can đảm và kiên trì
- Đầu tư và tài sản vô hình: tài sản vô hình bao gồm:
+ Tài sản trí tuệ
+ Các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại
+ R & D (nghiên cứu và phát triển)
+ Nguồn nhân lực
+ Các yếu tố khác
III- Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước
1. Vài nét về doanh nghiệp nhà nước
1.1 Khái niệm
Theo điều luật 1 chương 1 của bộ luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã qui định Doanh
nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu vốn điều lệ hoặc có cổ phần,vốn góp
chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,công ty cổ phần,công ty trách nhiệm
hữu hạn .
Hay theo khoản 22 điều 4 luật Doanh nghiệp năm 2005 Doanh nghiệp nhà nước là doanh
nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
1.2 Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại DNNN như dựa vào hình thức tổ chức DN,nguồn luật áp
dụng cho việc tổ chức và hoạt động của DN , nhưng nhóm chúng tôi sẽ chỉ phân loại dựa vào
mức độ vốn NN đầu tư tại DN.
* DN 100% vốn NN là những DN mà NN đầu tư toàn bộ vốn ĐL để thành lập, được hình
thành dưới các hình thức (Tổng) công ty NN, công ty cổ phần NN và công ty TNHH NN ( 1 và
2 thành viên).
13
* DN có cổ phần, vốn góp chi phối của NN là những DN mà NN đầu tư trên 50% VĐL và
NN giữ quyền chi phối DN đó. Mức độ và các vấn đề chi phối được quy định trong điều lệ DN.
Các DN này tồn tại dưới các hình thức: Công ty cổ phần, công ty TNHH (ngoài cổ đông chính
là NN có cổ phần chi phối còn có các cổ đông, thành viên khác có thể là nhà đầu tư trong nước
và nước ngoài)
1.3 Đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế thị thường.
Hoạt động kém hiệu quả của các DNNN. DNNN là các cơ sở kinh doanh do nhà nứoc sở hữư
hoàn toàn hoặc một phần.Quyền sở hữu thuộc về nhà nước là dặc trưng cơ bản nhất ,phân biệt
DNNN với các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân. Đặc trưng này quy định sự kiểm soát của
chính phủ bao gồm quyền chủ đạo và quyền can thiệp vào hoạt động kinh doanh.
Do vậy,người quản lý DNNN không có quyền linh hoạt đối phó với những điều kiện thay đổi
của thị trướng so vơi doanh nghiệp tư nhân.Cụ thể:Bị chính phủ yêu cầu phải mua hàng hoá sản
xuất trong nước,do vậy làm tăng chí phí đầu vào,do công viên chức trong nhà nước nhân
số,luôn ổn định cố định nên khó có khả năng thay thế đầu vào về nguồn lao động của mình cho
phù hợp với hoàn cảnh bên ngoài.
Mặt khác do quyền sở hữu thuộc về nhà nước ,là tổ cức không rõ ràng của nhiệm vụ được
giao cho các DNNN,trong khi các công ty của khu vực tư nhân lấy lợi nhuận làm mục đích bao
trùm thì các DNNN phải hướng vào các mục tiêu khác nhằm đảm bảo lợi ích xã hội, đôi khi
không làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Có thể là các DNNN buộc phải thoả mãn yêu cầu tiêu dùng trong nước với giá ưu đãi ,phải
đáp ứng các tiêu chuẩn dịch vụ nào đó ở bất kỳ đâu do nhà nước yêu cầu,cũng có thể bị yêu cầu
chỉ được vay vốn từ một số định chế cho vay nào đó hoặc từ những nguồn cho vay trong nước
nào đó.Do đó cũng có thể phải đầu tư phù hợp với kế hoạch quốc gia hoặc phải hy sinh lợi
nhuận để thực hiện những mục tiêu xã hội.
Bên cạnh đó,sự kiểm soát lỏng lẻo trong khu vực DNNN do sở hữu nhà nước (đôi lúc mang
nghĩa vô chủ),vì thế mỗi công nhân,người lao động thường không có mối liên hệ lợi ích đối với
DNNN,vì không thấy sự ảnh hưởng nhiều vì thế không có cá nhân nào thấy cần phải có sự
giám sát, điều hành,quản lý.
1.4 Sự cần thiết của DNNN trong nền kinh tế thị trường
Theo sự phân tích trên,DNNN gần như hoạt động kém hiệu quả so với hoạt động của doanh
nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường.Tuy vậy ,nó vẫn tồn tại và vận động,phát triển trong
nền kinh tế.
Ngoài lý do tạo cho chính phủ “một quả đấm mạnh” để giả quyết các vấn đề kinh tế xã hội to
lớn trong những giai đoạn dặc biệt như cạnh tranh,khủng hoảng kinh tế…sự tồn tại và phát
triển các DNNN chủ yếu còn do các mục tiêu phi thương mại của chính phủ nhằm điều tiết đời
sống kinh tế xã hội . Đó là mục tiêu ngăn chặn ngăn chặn độc quyền của khu vực tư nhân trong
một ngành công nghiệp nào đó có khả năng gây thiêt hại chung cho xã hội. Đó là mục tiêu phân
phối lại thu nhập quốc dân,tạo công ăn việc làm và cung cấp hàng hoá cho những thiệt hại kinh
tế.
Sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà sản phẩm của chúng được tiêu dùng mang tính xã
hội không thương mại hoá như giao thông đường thuỷ,những công thình kiến trúc mang tính
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét