Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lí NSNN ở việt nam trong điều kiện hiện nay

Trong nền kinh tế hàng hoá có một loạt những quy luật kinh tế vốn có của
nó hoạt động nh: quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh, quy
luật lu thông tiền tệ và lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vân động đó.
Các quy luật biểu hiện sự tác động của mình thông qua thị trờng. Nhờ sự vân
động của hệ thống giá cả thị trờng mà diễn ra sự thích ứng tự phát giữa khối
lợng và cơ cấu của sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu của xã hội.
Có thể hiểu cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết kinh tế hàng hoá do sự
tác động của các quy luật kinh tế, cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản của
tổ chức kinh tế là sản xuất cái gì, nh thế nào và cho ai. Cơ chế thi trờng bao
gồm các nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trờng. Thực tế khó đánh giá
đầy đủ u điểm và khuyết tật của cơ chế thị trờng. Nhìn chung nó có các u
điểm cơ bản sau:
* Cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo
đIều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế
phát triển năng động, phát huy đợc các nguồn lực của xã hội vào phát triển
kinh tế.
* Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức
thấp nhất có thể đợc bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản
xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao
động, nâng cao chất lợng và số lợng hàng hoá.
* Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự thích ứng tự phát giữa
khối lợng và cơ câú sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó
có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn,
hàng vạn loại sản phẩm khác nhau.
* Trong cơ chế thị trờng tồn tại sự đa dạng của các thị trờng. Bên cạnh
thị trờng hàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các thị trờng về vốn, lao động
phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo
quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ.
5
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị trờng
là cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song, cơ chế
thị trờng không phải là hiện thân của sự hoàn hảo mà chứa đựng trong nó
nhều trục trặc.
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp lá tối đa hoá lợi nhuận.
Ngành nào, lĩnh vực nào có khả năng đem lại lợi nhuận cao thì các doanh
nghiệp sẽ đổ xô vào sản xuất mặt hàng, lĩnh vực đó. Từ đó dẫn đến sự phát
triển mất cân đối giữa các khu vực, ngành, nghề trong nền KTQD.
Hơn nữa, vì lợi nhuận, các doanh nghiệp sẵn sàng lạm dụng tài
nguyên, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã hội phải gánh chịu,
do đó, hiệu quả kinh tế, xã hội không đợc đảm bảo.
Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trờng hoạt động tốt cũng
không thể đạt đợc. Sự tác động của cơ chế thị trờng dẫn đến sự phân hoá
giàu, nghèo, tác động xấu đến đạo đức và tình ngời.
Với một loạt các khuyết tật trên, ngày nay, trên thực tế không tồn tại cơ
chế thị trờng thuần tuý, mà thờng có sự can thiệp của Nhà nớc, khi đó nền
kinh tế gọi là Nền kinh tế hỗn hợp.
2.2. Vai trò của Ngân sách Nhà nớc trong cơ chế thị trờng.
Tất cả những khiếm khuyết của cơ chế thị trờng đòi hỏi có sự can thiệp
của Nhà nớc là tất yêu, là một nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lai những
cân đối và mở đờng cho sức sản xuất phát triển.
Trong cơ chế điều chỉnh của Nhà nớc, bên trong kết cấu của nó, ngoài
việc tổ chức một cách khoa học, thì những công cụ tài chính, tiền tệ, kế
hoạch, luật pháp đợc coi là những công cụ điều chỉnh cơ bản và quan trọng.
NSNN là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nớc đIều chỉnh vĩ mô
nền kinh tế, xã hội. Mục tiêu của NSNN không phải để Nhà nớc đạt đợc lợi
nhuận nh các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình trớc
các đối thủ cạnh tranh trên thị trờng. NSNN ngoàI việc duy trì sự tồn tại của
6
bộ máy Nhà nớc còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra
môi trờng thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
NSNN đợc sử dụng nh là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm
bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh.
Trớc xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế,
thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách u đãi, đầu
t vao các lĩnh vực mà t nhân không muốn đầu t vì hiệu quả đầu t thấp; hoặc
qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ
của t nhân có khả năng thao tong trên thị trờng; đồng thời, áp dụng mức thuế
suất u đãi đối với những hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng. Nhờ đó mà có
thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế.
Giá cả trên thị trờng biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá,
dịch vụ. NSNN cũng đợc sử dụng nh là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cả
của thị trờng. Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những ngời có thu
nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà ngời bán đợc
phép đa ra và mức này thờng là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trờng, khi
đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên tthị trờng. để duy trì hiệu lực của giá
trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng cách cung phần thiếu của hàng
hoá, lợng hàng hoá này đợc lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nớc thuộc NSNN, tức
là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này. Trái lại khi Chính
phủ muốn bảo hộ cho ngời sản xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó
đợc khuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà ngời bán đợc
phép đa ra và mức này thờng lớn hơn giá cân bằng trên thị trờng. Điều này sẽ
dẫn đến sự d thừa hàng hoá trên thị trờng và khi đó là sự can thiệp của Chính
phủ bằng cách mua hết lợng hàng thừa. Khoản tiền sử dụng để thanh toán
cho ngời bán cũng là từ NSNN.
Một vai trò đợc coi là không kém phần quan trọng của NSNN là giải
quyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trờng Chẳng hạn tr ớc vấn
đề công bằng xã hội. Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn
minh và ổn định, Chính phủ thờng sử dụng các biện pháp tác động tới thu
7
nhập để thiết lập lai sự công bằng xã hội. Điều chỉnh thu nhập của các nhóm
dân c khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những ngời có thu nhập thấp
hoặc hoàn toàn không có thu nhập. Một cách khác, Chính phủ có thể sử dụng
biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo thu
nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân. theo đánh giá thì đây là biện
pháp tích cực nhất, động thời làm tăng thu nhập quốc dân; nói cách khác, nó
làm cho một số ngời dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách
thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với ngời có thu nhập cao và ng-
ợc lại.
Nh vậy, vai trò của NSNN là rất lớn. Vấn đề đặt ra là việc tổ chức quy mô,
cơ cấu và quản lý NSNN nh thế nào để phát huy đợc vai trò của nó.
II. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN.
Luật NSNN ra đời là sự phản ánh pháp lý cơ chế quản lý NSNN ở nớc
ta, thể chế hoá những chủ trơng, đờng lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI,
VII, VIII, là công cụ pháp lý để quản lý NSNN có hiệu lực và hiệu quả, góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính. Hệ thống NSNN và phân cấp
quản lý NSNN là nội dung cốt lõi trong mối quan hệ giữa ngân sách trung -
ơng (NSTƯ) và ngân sách địa phơng (NSĐP) đã đợc phản ánh rõ ràng trong
luật dựa trên quan đIúm của Đảng và Nhà nớc ta: tăng cờng tính tập trung,
thống nhất, tính liên tục của đIều hành vĩ mô, lãnh đạo tập trung đi đôi với
việc mở rộng trách nhiệm và quyền hạn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của
địa phơng đối với những vấn đề mà các địa phơng có khả năng xử lý có hiệu
quả.
1. Hệ thống NSNN.
Hệ thống NSNN đợc hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ
hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp
ngân sách.
Tại nớc ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ
máy Nhà nớc và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh
8
tế xã hội của đất nớc theo Hiến pháp. Mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân
sách riêng cung cấp phơng tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Việc hình thành hệ thống
chính quyền Nhà nớc các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nớc trên mọi vùng lãnh thổ của đất nớc. Chính sự ra
đời của hệ thống chính quyền Nhà nớc nhiều cấp đó
là tiền đề cần thiết để tổ chức hệ thống NSNN nhiều cấp.
Cấp ngân sách đợc hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nớc, phù
hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nớc ta hiện nay, hệ thống
NSNN bao gồm NSTƯ và NSĐP. Trong đó, NSTƯ gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng (gọi chung là
ngân sách cấp tỉnh).
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là ngân sách cấp huyện).
- Ngân sách cấp xã, phờng, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
NSTƯ phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo nhành và giữ vai trò chủ đạo trong
hệ thống NSNN. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ơng đ-
ợc Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
xã hội của đất nớc. NSTƯ cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nớc trung ơng (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh
quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu t phát triển ). Nó còn là trung tâm
điều hoà hoạt động ngân sách của địa phơng. Trên thực tế, NSTƯ là ngân
sách của cả nớc, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo
các nhiệm vụ chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nớc. NSTƯ bao gồm
các đơn vị dự toán của cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ơng là một đơn vị
dự toán của NSTƯ.
NSĐP là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên
dới phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngoài ngân sách xã cha có đơn
9
vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của
cấp ấy hợp thành.
* Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm
bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của
chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng. Chính quyền cấp
tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác các thế mạnh trên
địa bàn tỉnh để tăng nguồn thu, đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách
cấp mình.
* Ngân sách cấp xã, phờng, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm
quan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu đợc khai thác trực
tiếp trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng đợc bố tríđể phục vụ cho mục đích
trực tiếp của cộng đồng dân c trong xã mà không thông qua một khâu trung
gian nào. Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, đảm
bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ động khai thác các thế mạnh
về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các
chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
Trong hệ thống ngân sách Nhà nớc ta, ngân sách trung ơng chi phối phần
lớn các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phơng chỉ đợc giao
nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phơng. Quan hệ
giữa các cấp ngân sách đợc thực hiện theo nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ơng và ngân sách các cấp chính quyền địa phơng đợc
phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể
Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dới để
đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phơng. Số bổ
sung này là khoản thu của ngân sách cấp dới.
Trờng hợp cơ quan quản lý Nhà nớc cấp trên uỷ quyền cho cơ quan
quản lý Nhà nớc cấp dới thực hiện nhiệm vị chi thuộc chức năng của mình,
thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dới để thực
hiện nhiệm vụ đó.
10
Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi,
không đợc dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp
khác trừ trờng hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
2. Phân cấp quản lý NSNN:
2.1. Sự cần thiết và tác dụng:
Chế độ phân cấp và quản lý ngân sách ở nớc ta ra đời từ năm 1967, tới nay
đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất
định nhằm giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa NSTƯ và
chính quyền các cấp trong quản lý NSNN.
NSNN đợc phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa
phơng là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống NSNN gồm nhiều cấp.
Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp
quản lý về hành chính. Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo
bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất
và bố chí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống. Mặt khác, xét
về yếu tố lịch sử và thực tế hiện nay, trong khi Đảng và Nhà nớc ta đang
chống t tởng địa phơng, cục bộ vẫn cần có chính sách và biện pháp nhằm
khuyến khích chính quyền địa phơng phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ
động, sáng tạo của địa phơng mình trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội
trên địa bàn. Có một số khoản thu nh: tiền cho thuê mặt đất, mặt nớc đối với
doanh nghiệp, tiền cho thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nớc, lệ phí trớc
bạ, thuế môn bài, giao cho địa ph ơng quản lý sẽ hiệu quả hơn.
Phân cấp quản lý NSNN là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN
với cac hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung
đấy đủ và kịp thời, đúng chính sách, chế độ các nguồn tài chính quốc gia và
phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao,
phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc. Phân
cấp quản lý NSNN đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phơng tiện tài
chính cho việc duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân
11
sách từ trung ơng đến điah phơng mà còn tạo điều kiện phát huy đợc các lợi
thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phơng trong cả nớc. Nó cho phép quản
lý và kế hoạch hoá NSNN đợc tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp
chính quyền cũng nh quan hệ giữa các cấp ngân sách đợc tố hơn để phát huy
vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN. Đồng thời, phân cấp quản lý
NSNN còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng
hoàn thiện hơn.
Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối
quan hệ giữa chính quyền Nhà nớc trung ơng và các cấp chính quyền địa ph-
ơng trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành NSNN đúng đắn và
hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý NSNN.
2.2. Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp
chính quyền Nhà nớc về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành
NSNN.
Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các
nguyên tắc sau đây:
Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nớc. Phân
cấp quản lý kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp
quản lý NSNN. Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối
quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu,
nhiệm vụ chi của các cấp. Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối
quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, quyền lợi phải tơng xứng với nhiệm vụ
đợc giao. Mặt khác, nguyên tắc này còn đảm bảo tính độc lập tơng đối trong
phân cấp quản lý NSNN ở nớc ta.
Hai là: ngân sách trung ơng giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực
cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nớc. Cơ
sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nớc trung ơng
12
trong quản lý kinh tế, xã hội của cả nớc mà Hiến pháp đã quy định và từ tính
chất xã hội hoá của nguồn tài chính quốc gia.
Nguyên tắc này đợc thể hiện:
- Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN đợc ban hành thống nhất và dựa
chủ yêu trên cơ sở quản lý NSTƯ.
- NSTƯ chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh tế và
trong xã hội. Điều đó có nghĩa là: các khoản thu chủ yếu có tỷ trọng lớn phải
đợc tập trung vào NSTƯ, các khoản chi có tác động đến quá trình phát triển
kinh tế, xã hội của cả nớc phải do NSTƯ đảm nhiệm. NSTƯ chi phối hoạt
động của NSĐP, đảm bảo tính công bằng giữa các địa phơng.
Ba là: phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần
trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân
sách cấp dới đợc cố định từ 3 đến 5 năm. Hàng năm, chỉ xem xét điều chỉnh
số bổ sung một phần khi có trợt giá và một phần theo tốc độ tăng trởng kinh
tế. Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào NSĐP đợc thu do NSĐP thu,
khoản nào NSĐP phải chi do NSĐP chi. Không để tồn tại tình trạng nhập
nhằng dẫn đến t tởng trông chờ, ỷ lai hoặc lạm thu giữa NSTƯ và NSĐP. Có
nh vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phơng trong bố
trí kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời là điều kiện để xác định rõ
trách nhiệm của địa phơng và trung ơng trong quản lý NSNN, tránh co kéo
trong xây dựng kế hoạch nh trớc đây.
Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân
sách phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nớc, cố gắng hạn chế thấp
nhất sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ.
2.3. Nội dung của phân cấp quản lý NSNN.
Dựa trên cở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp quản
lý NSNN đợc quy định rõ trong chơng II và III của luật NSNN bao gồm:
13
Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều hành
NSNN từ trung ơng đến địa phơng trong việc ban hành, tổ chức thực hiện và
kiểm tra, giám sát về chế độ, chính sách.
Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và điều
hành NSNN trong việc ban hành hệ thống biểu mẫu, chứng từ về trình tự và
trách nhiệm của các cấp chính quyền trong xây dựng dự toán ngân sách,
quyết toán ngân sách và tổ chức thực hiện kế hoạch NSNN.
Cụ thể:
Quốc hội quyết định tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn
bù đắp bội chi; phân tổ NSNN theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ
cấu giữa chi thờng xuyên và chi đầu t phát triển, chi trả nợ. Quốc hội giao
cho Uỷ ban thờng vụ Quốc hội quyết định phơng án phân bổ NSTƯ cho từng
bộ, ngành và mức bổ sung từ NSTƯ cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ơng. Nh vậy, Quốc hội quyết định những vấn đề then chốt nhất về NSNN,
đảm bảo cơ cấu thu, chi NSNN hợp lý và cân đối NSNN tích cực, đồng thời
giám sát việc phân bổ NSTƯ và ngân sách của các địa phơng.
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ cuat Quốc
hội giao về quyết định phơng án phân bổ NSTƯ, giám sát việc thi hành pháp
luật về NSNN.
Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thờng vụ quốc hội các dự án luật,
pháp lệnh và các dự án khác về NSNN; ban hành các văn bản pháp quy về
NSNN; lập và trình Quốc hội dự toán và phân bổ NSNN, dự toán điều chỉnh
NSNN trong trờng hợp cần thiết; giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng
bộ, ngành; thống nhất quản lý NSNN đảm bảo sự phối hợp chăth chẽ giữa các
cơ quan quản lý ngành và địa phơng trong việc thực hiện NSNN; tổ chức
kiểm tra việc thực hiện NSNN; quy định nguyên tắc, phơng pháp tính toán số
bổ sung nguồn thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dới; quy định
chế độ quản lý quỹ dự phòng NSNN và quỹ dự trữ tài chính; kiểm tra nghị
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét