Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi nhánh Nam Hà Nội giai đoạn 2006-2008

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chức tài chính qua các đặc điểm sau:
- NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan
đến tiền tệ. Đây là điểm cơ bản nhất, phân biệt kinh doanh ngân hàng với lĩnh vực
kinh doanh khác và là đặc điểm nói lên tính đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng theo cơ chế thị trường
- Hoạt động kinh doanh ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro. Các chuyên gia kinh
tế nhận định rằng: Các ngân hàng tạo cơ hội thu lợi nhuận cho mình bằng cách vay
ngắn hạn lãi suất thấp để cho vay dài hạn với lãi suất cao, do đó có sự lầm tưởng hoạt
động ngân hàng không gặp rủi ro. Thực chất hoạt động ngân hàng gặp rủi ro rất cao.
Điều đó được thể hiện rất rõ trong trường hợp: Nếu khách hàng không trả được nợ
khi đến hạn khi đó sẽ khiến ngân hàng gặp rủi ro tín dụng, hay rủi ro thanh khoản nếu
ngân hàng không có khả năng thanh toán cho khác hàng
- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang tính hệ thống cao, chịu sự quản lý
nghiêm ngặt của nhà nước. Tình hình hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, ngoài việc chịu sự giám sát của nhà nước, hoạt động của
ngân hàng phải duy trì tính ràng buộc về kỹ thuật, về nghiệp vụ trên phạm vi ngày
càng rộng, mà còn bởi nhu cầu phải hỗ trợ nhau giữa các ngân hàng về thanh khoản,
vốn kinh doanh, chia sẻ rủi ro để đảm bảo an toàn cho bản thân, cho hệ thống nền
kinh tế
1.1.3 Chức năng của NHTM
- Chức năng làm thủ quỹ chi xã hội
Thực hiện chức năng này NHTM nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức,
các doanh nghiệp, giữ tiền gửi cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền và
chi tiền của họ
Chức năng này đã có ngay trong thời kỳ sơ khai của hoạt động ngân hàng xuất
phát từ nhu cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và mong muốn tích lũy giá trị của
công chúng và các doanh nghiệp, cá nhân ngày càng lớn, ngân hàng đã nhận tiền gửi
của khách hàng và trả lãi tiền gửi cho khách hàng. Trong trường hợp này ngân hàng
giữ vai trò là thủ quỹ của các khách hàng
Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập ngày càng cao, tích lũy
của doanh nghiệp, cá nhân ngày càng lớn, cộng thêm nhu cầu phát sinh lời càng làm
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chức năng trung gian tài chính của ngân hàng phát huy tác dụng. Nó đem lại lợi ích
cho ngân hàng và khách hàng
- Chức năng trung gian tài chính
Với sự ra đời của NHTM, phần lớn các khoản chi trả về hàng hóa dịch vụ của
xã hội được thực hiện thông qua ngân hàng với những hình thức thích hợp, thủ tục
đơn giản và kỹ thuật ngày càng trở nên hiện đại. Trước kia khi đi mua sắm hàng hóa
mọi người bắt buộc phải mang theo tiền mặt thì mới có thể mua được hàng hóa,
nhưng giờ đây thì không cần thiết họ hoàn toàn có thể thanh toán bằng thẻ ATM, rất
nhanh gọn, đảm bảo an toàn cho người sử dụng, không sợ bị mất tiền trong quá trình
sử dụng. Trong trường hợp này thì ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính giữa
khách hàng với nhà cung cấp hàng hóa. Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã
hội vào ngân hàng, nên việc giao lưu hàng hóa, dịch vụ trở nên thuận tiện nhanh
chóng, an toàn tiết kiệm hơn.
Ngoài ra do thực hiện chức năng thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiền
gửi xã hội, tạo nguồn vốn cho vay và đầu tư, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
- Chức năng tín dụng
Với chức năng này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai
trò là người cho vay
NHTM thu hút khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội, gồm tiền gửi của doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, cơ quan nhà nước, mặt khác nó dùng chính số tiền đó
cho vay đối với những người có nhu cầu. Có thể nói NHTM là một chung gian tài
chính tín dụng quan trọng trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi
thiếu vốn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống
cho các tầng lớp dân cư
Thông qua việc đi vay và cho vay NHTM có được nguồn chủ lực, không những
đủ sức duy trì bộ máy hoạt động, mà còn đảm bảo sự phát triển không ngừng của bản
thân ngân hàng
1.1.4 Vai trò của NHTM
Với các chức năng trên, NHTM có vai trò rất quan trọng:
- Thúc đẩy phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thông qua hệ thống ngân hàng mà tiền tiết kiệm của XH được huy động vào
quá trình vận động của nền kinh tế, vào quá trình sử dụng, phục vụ sản xuất, nâng
cao đời sống XH. Thông qua đó người gửi tiền cũng được nhận một khoản tiền lãi
tương ứng với số tiền mình đã gửi. Ngoài ra, với vai trò trung gian thanh toán, các
NHTM đã đẩy nhanh quá trình thanh toán cho cá nhân và doanh nghiệp, nâng cao
hiệu quả kinh tế. Đồng thời qua đó, ngân hàng cũng giám sát được các hoạt động
kinh tế, biết được mức độ giàu có của người dân, góp phần tạo môi trường kinh
doanh lành mạnh, tạo sự ổn định cho đời sống kinh tế xã hội.
- Thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW
NHTW có nhiệm vụ thực hiện chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu kinh
tế vĩ mô, đặc biệt là ổn định kinh tế. Phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tiền
tệ của NHTM chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và hiệu quả của
các NHTM, từ việc chấp hành quy chế bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền
mặt, đến nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư
- Nối giữa thị trường tài chính quốc gia và quốc tế
Ngân hàng là ngành kinh tế tổng hợp, nhạy cảm với mọi biến động của nền
kinh tế, chính trị xã hội, NHTM cũng là nơi dễ dàng trao đổi nhanh chóng tiếp cận
được vơi những biến đổi mạnh mẽ trên thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa thị
trường tài chính thế giới, ngân hàng với vai trò là cầu nối giữa thị trường tài
chính nội địa với thị trường khu vực thế giới là không thể thiếu. Trong bối cảnh
kinh tế hiện nay các mối quan hệ không chỉ bó hẹp trong phạm vi các quốc gia mà
mở rộng ra phạm vi toàn thế giới. Quan hệ kinh tế quốc tế rất đa dạng phức tạp,
hoạt động thanh toán quốc tế cũng chứa đựng nhiều rủi ro, Vì vậy hơn bao giờ
hết, vai trò của NHTM càng trở nên quan trọng.
1.2 Cơ chế tài chính của NHTM
1.2.1 Cơ chế tài chính của NHTM
- NHTM là định chế tài chính kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng. Theo nghị định 166/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về
chế độ tài chính của các tổ chức tín dụng trong đó có NHTM :” Các
tổ chức tín dụng tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
kinh doanh của mình theo quy định của pháp luật, và các tổ chức tín
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng phải thực hiện công khai tài chính”.
- Xuất phát từ cơ chế điều hòa vốn, các NHTM thực hiện hạch toán
hệ thống, trong đó hội sở chính chịu trách nhiệm về hoạt động tài
chính, kết quả kinh doanh của toàn hệ thống, các chi nhánh là các
đơn vị hạch toán nội bộ, chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính
của mình và kết quả kinh doanh của mình.
- Hoạt động tài chính NHTM theo nguyên tắc lấy thu bù chi, nếu kinh
doanh có lãi thì sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số còn lại
được trích lập các quỹ theo luật định. Ngược lại, nếu lỗ thì NHTM
chịu trách nhiệm về khoản lỗ trên cơ sở điều hòa kết quả kinh doanh
của toàn hệ thống đảm bảo hoạt động đều trong cả hệ thống
- Niên độ tài chính của NHTM bắt đầu từ 01/01 đến ngày 31/12 mỗi
năm. Mọi khoản thu nhập, chi phí phải được hạch toán hết trong năm
tài chính. Cuối năm, ngân hàng xác định kết quả kinh doanh một lần,
tuy nhiên để có tạm trích và trả lương cho cán bộ thì hàng quý.
NHTM tạm tính kết quả hoạt động kinh doanh theo kế hoạch lợi
nhuận. Cuối năm, sau khi xác định kết quả kinh doanh chính thức sẽ
thanh toán phần tạm chi lương và tạm trích các quỹ
- Hàng năm, hoạt động tài chính của NHTM phải được kiểm toán nội
bộ và kiểm toán độc lập.
Nhìn chung, nghị định 166 đã quy định khá đầy đủ về chế độ tài chính cho các
tổ chức tín dụng. Nghị định đảm bảo được sự quản lý chặt chẽ của nhà nước trong
lĩnh vực tài chính, đồng thời xác lập tư cách tự chủ trong kinh doanh của các tổ chức
tín dụng. Các tổ chức tín dụng sẽ tự quyết định, tự đề ra phương hướng hoạt động
kinh doanh sao cho hiệu quả, đảm bảo hài hòa lợi ích của mình và của khách hàng,
đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật do chính phủ ban hành.
1.2.2 Các khoản thu nhập chi phí của NHTM
1.2.2.1Các khoản thu nhập:
Doanh thu của NHTM được hình thành từ thu lãi cho vay, đầu tư, từ kinh doanh
ngoại tệ, vàng bạc đá quý, dịch vụ thanh toán.
Nội dụng các khoản thu của NHTM ngày càng đa dạng phức tạp:
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Thu từ hoạt động nghiệp vụ
Đây là các khoản thu chủ yếu, thường xuyên của các NHTM. Khi thực hiện các
nghiệp vụ của mình, NHTM cung cấp cho nền kinh tế các dịch vụ tiện ích đổi lại
ngân hàng nhận được khoản thu:
- Thu từ hoạt động tín dụng:
+ Thu lãi cho vay: Do hoạt động tín dụng luôn luôn tiềm ẩn rủi ro, nên không
phải lúc nào cũng có thể xác định được chính xác nguồn thu từ hoạt động này
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh: Bảo lãnh là việc ngân hàng dùng uy tín, nguồn lực
của mình để đảm bảo cho khách hàng thực hiện công việc của họ như bảo lãnh dự
thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán….Thông qua hoạt động này,
ngân hàng cũng thu được phí, tuy nhiên đây cũng là một hoạt động chứa đựng nhiều
rủi ro.
+ Thu từ nghiệp vụ cho thuê tài chính: Là hình thức tín dụng rất tiện ích cho
những doanh nghiệp còn non yếu về vốn. Hình thức này còn mới mẻ với Việt Nam,
hoạt động chưa được thực sự sôi động do vậy thu nhập từ hoạt động này còn chiếm tỉ
trọng nhỏ
+ Thu khác về hoạt động tín dụng: Thu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
+ Thu lãi tiền gửi: Khoản thu này có được do lượng tiền gửi hàng tháng ở
NHNN và TCTD khác. Do mục đích của việc gửi tiền là để đảm bảo dự trữ bắt buộc
và mục đích thanh toán nên tỷ trọng của khoản thu này là rất nhỏ
 Thu từ hoạt động khác
Ngày nay hoạt động của các ngân hàng rất đa dạng, theo xu thế ngân hàng đa
năng, cung cấp danh mục rất đa dạng, phục vụ các nhu cầu luôn luôn thay đổi của
khách hàng. Dó đo các khoản thu từ hoạt động khác cũng rất đa dạng và ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn dần
+ Thu lãi góp vốn mua cổ phần, hùn vốn liên doanh: Ngân hàng cũng là một
doanh nghiệp và cũng được tham gia góp vốn mua cổ phần theo một tỉ lệ nhất định.
Góp vốn mua cổ phần sẽ được tham gia góp vốn liên doanh: Ngân hàng cũng là một
doanh nghiệp và cũng được tham gia góp vốn mua cổ phần theo một tỉ lệ nhất định.
Góp vốn mua cổ phần sẽ đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng nếu ngân hàng đầu tư
góp vốn vào doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có nhiều triển vọng. Để đạt được điều
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
này đòi hỏi ngân hàng phải có sự phân tích đánh giá kỹ tiềm năng của đối tác trước
khi quyết định hùn vốn hay mua cổ phần. Đây cũng là hoạt động làm đa dạng hóa
danh mục các khoản thu cho ngân hàng
+ Thu lãi từ tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ là nơi trao đổi
mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn ( dưới 1 năm ). Các hàng hóa trên thị
trường này có tính thanh khoản cao, rủi ro thấp, do đó lãi suất thấp. Đây là thị
trường quan trọng để tài trợ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp và chính
phủ
+ Thu từ kinh doanh vàng bạc đá quý, ngoại tệ: Kinh doanh vàng bạc ngoại tệ
trên thị trường, phục vụ tích cực cho hoạt động xuất nhập khẩu cũng như các hoạt
động trong nền kinh tế. Các hình thức kinh doanh ngoại tệ chủ yếu là mua bán ngoại
tệ chủ yếu là mua bán ngoại tệ, chuyển đổi ngoại tệ, bảo quản chứng từ có giá trị
ngoại tệ.
Ngoài ra, một số hoạt động khác cũng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng như:
+ Thu từ nghiệp vụ ủy thác, đại lý: Dịch vụ ủy thác cho cá nhân như quản lý tài
sản theo di chúc, quản lý ủy thác điều hành tài sản theo hợp đồng: Dịch vụ ủy thác
đại lý và các tổ chức từ thiện, các tổ chức khác như đẩy mạnh việc nghiên cứu, trợ
giúp các trường hợp, trợ cấp học bổng cho sinh viên, nhận ủy thác cho các tổ chức xã
hội.
+ Thu từ kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm: Các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm
nhân thọ, bảo hiểm nhà, đồ dùng trong gia đình …….
+ Thu từ hoạt động tư vấn: Tư vấn là dịch vụ được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng ký kết và cung cấp cho bên được tư vấn những trợ giúp. Những trợ giúp này tập
trung vào việc xác định và phân tích các vấn đề cần giải quyết, kiến nghị các giải
pháp, và nếu được có thể yêu cầu thực hiện các giải pháp trong quá trình thực hiện
nó. Các dịch vụ chủ yếu do ngân hàng cung cấp: Dịch vụ điều tra và đánh giá tình
hình tài chính của công ty, quản lý thanh khoản và vốn lưu động, phân tích thẩm định
dự án đầu tư….
+ Thu từ dịch vụ khác: Dịch vụ quản tài sản, cho thuê két sắt, dịch vụ cầm đồ
Tỷ trọng các khoản thu từ hoạt động khác trong tổng thu của ngân hàng ở các
nước khác nhau. Ở nước ta phát triển thì nguồn thu này chiếm tỷ trọng lớn hơn ở các
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nước đang phát triển. Ngân hàng nào mà tỉ trọng nguồn thu này lớn chứng tỏ ngân
hàng đó có uy tín và vị thế cao trên thị trường.
1.2.2.2Các khoản chi phí
Chí phí NHTM gồm các khoản chi trả tiền gửi, trả lãi tiền vay, chi kinh doanh
ngoại tệ, vàng bạc đá quý, chi quản lý…Trong đó trả tiền lãi, tiền gửi chiếm tỷ trọng
lớn nhất. Mỗi khoản chi phí có tính chất vai trò khác nhau.
 Nội dung các khoản chi phí
Chi phí của ngân hàng rất đa dạng và phức tạp, xuất phát từ đặc điểm kinh
doanh của ngân hàng và tính chất vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Việc
ngân hàng xác định mức hợp lý chi phí rất quan trọng và cũng là một công việc rất
khó khăn, vì nó ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng. Chi phí ngân hàng gồm
nhóm chính sau:
+ Chi phí hoạt động kinh doanh
Đây là nhóm chính thường xuyên, chiếm tỷ trọng lớn gắn liền với hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
+ Chi hoạt động huy động vốn: Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là đi vay và
cho vay. Chi cho hoạt động huy động vốn là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất, bao
gồm chi trả tiền lãi vay, lãi phát hành giấy tờ có giá.
+ Chi trả lãi tiền gửi: Là khoản tiền mà ngân hàng phải bỏ ra để sử dụng nguồn
vốn từ người gửi tiền. Để huy động được nguồn vốn lớn. các ngân hàng thường đưa
ra mức lãi suất nhằm thu hút được khách hàng, lãi suất huy động cao giúp ngân hàng
huy động khối lượng vốn lớn. Tuy nhiên sức ép về chi phí cũng là nguyên nhân gây
đau đầu cho các ngân hàng, nhất là hiện nay, cơ chế lãi suất thỏa thuận đang được áp
dụng, các ngân hàng đang phải chay đua lãi suất để thu hút khách hàng. Thực ra đây
là khoản chi khó có thể giảm bớt bởi huy động vốn là nòng cốt, là cơ sở để ngân hàng
phát triển các nghiệp vụ bên tài sản có
+ Chi trả lãi tiền vay: Là khoản tiền mà ngân hàng trả khi vay vốn của NHTW
hay TCDT khác để tạo khả năng thanh toán cho mình . Do lãi suất của các khoản vay
thường cao nên các ngân hàng cũng hạn chế sử dụng nguồn vốn này, chỉ khi nào cần
thiết mới đi vay.
+ Phát hành giấy tờ có giá: Cũng là hình thức huy động vốn trên thị trường, tuy
nhiên, đây không phải hình thức các NHTM thường xuyên sử dụng. Do đó chi phí cho
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc chi trả phát hành giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng nhỏ.
+ Chi về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Gồm các khoản chi như về cước phí
bưu điện, vận chuyển bốc xếp tiền, kiểm đếm bảo vệ…
+ Chi về tài sản
+ Chi cho hoạt động khác
Chi nộp thuế: Ngân hàng cũng là doanh nghiệp nên hoạt động cũng phải tuân
theo luật của doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.
Các loại thuế gồm: Thuế môn bài, thuế sử dụng đất, thuế giá trị gia tăng, thuế thu
nhập doanh nghiệp. Các loại thuế như cầu phí cầu đường, phí sân bãi.
Chi lương: Đây là khoản chi thường xuyên và có vai trò quan trọng, lương có
xứng đáng với nhân viên thì mới có thể giữ được những người lao động có khả năng
và năng lực làm việc tốt. Nếu ngân hàng trả lương không xứng đáng với người lao
động làm cho người lao động không có hứng thú khi làm việc trong ngân hàng, ngân
hàng sẽ mất đi những người tài giỏi.
Chi hoạt động quản lý và công cụ: Khoản chi này chiếm tỷ trọng không lớn đó
là khoản chi cho những thú cần thiết trong hoạt động kinh doanh như chi về vật liệu
giấy tờ in, chi phí công tác …
Chi dự phòng, bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng: Hoạt động kinh
doanh luôn tiềm ẩn những rủi ro, nhất là lĩnh vực nhạy cảm như hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Việc lập dự phòng rủi ro là hết sức quan trọng, cần thiết
+ Chi bất thường: Là khoản chi đột suất ngoài dự tính
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh
doanh của NHTM
Nâng cao lợi nhuận là điều mà bất cứ tổ chức kinh doanh nào cũng muốn đạt
được. Ngày nay, khi môi trường kinh doanh trở nên khắc nghiệt thì việc tăng lợi
nhuận càng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng bởi các hoạt động
của ngân hàng bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác nhau. Các nhân tố này có thể chia
thành hai nhóm: Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
 Nhân tố khách quan
Bất kỳ một đơn vị kinh doanh nào khi đi vào hoạt động cũng chịu ảnh hưởng
bởi các yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. Các nhân tố này luôn hiên hữu
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cùng với quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các nhân tố rất đa dạng và
chúng được chia thành hai nhóm
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô như môi trường kinh tế, chính trị văn hóa
xã hội, môi trường pháp luật, công nghệ… Sự tác động của nhân tố này là tác động
hai chiều. Nếu nền kinh tế đang ở giai đoạn phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP, GNP
tăng đều đặn và ổn định qua các năm sẽ tạo cơ hội cho ngân hàng, ổn định kinh tế,
quy mô đầu tư tăng, nhu cầu vay vốn nhiều, đời sống của người dân ngày càng được
cải thiện, thu nhập tăng lên làm cho tiết kiệm cũng tăng lên, nguồn vốn gửi vào ngân
hàng cũng tăng lên. Hoặc khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ cũng ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Nếu thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, các
ngân hàng phải tăng dự trữ bắt buộc vốn sử dụng cho vay giảm, cơ hội kinh doanh
giảm sút… Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ công nghệ khoa học kỹ thuật,
công nghệ để phục vụ cho ngân hàng ngày càng hiện đại, giúp ngân hàng xử lý các
thông tin nhanh chóng an toàn tiện lợi, tạo điều kiện cho nhiều sản phẩm dịch vụ mới
ra đời. Tuy nhiên công nghệ mới ra đời làm cho công nghệ hiện hữu trở nên lỗi thời,
ngân hàng phải đổi mới công nghệ thường xuyên. Điều này sẽ gây áp lực cho ngân
hàng về vấn đề chi phí.
Các nhân tố thuộc môi trường vi mô cũng hết sức quan trọng như đối thủ canh
tranh, sản phẩm thay thế… Trước đây, khi người ta chưa mở cửa hội nhập và cũng
chưa đa dạng hóa loại hình sở hình sở hữu các NHTM chiếm vị trí độc tôn. Ngày nay
cũng với sự thay đổi trong chính sách nhiều loại hình ngân hàng ra đời (NHTM cổ
phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài…) gây sức ép cạnh
tranh lớn. Như vậy “Chiếc bánh thị trường bị chia nhỏ” hoạt động kinh doanh không
còn thuận lợi như trước nữa. Chưa kể những lợi thế về quy mô, kinh nghiệm, công
nghệ …Của các ngân hàng nước ngoài. Đồng thời nước ta đã cho phép các tổ chức
khác hoạt động như ngân hàng, vì thế các dịch vụ của nó cũng có tác dụng như các
dịch vụ của ngân hàng, chẳng hạn như bên cạnh hoạt động huy động vốn của ngân
hàng còn có các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm, hay tiết kiệm bưu điện của
ngành bưu điện.
Tóm lại, sự biến động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tạo điều kiện
cho ngân hàng thuận lợi trong hoạt động kinh doanh cũng như sẽ gây những khó
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khăn, đe dọa hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải phát huy những
yếu tố tích cực cũng như hạn chế những điểm bất lợi để hoạt động của mình có hiệu
quả tốt nhất.
 Nhân tố chủ quan
Nếu nhân tố khách quan là những nhân tố phụ thuộc vào môi trường bên ngoài,
tồn tại khách quan, ngân hàng không thể tác động thay đổi được, thì nhân tố bên chủ
quan là những nhân tố bên trong, thuộc về bản thân ngân hàng bao gồm: Nguồn lực
tài chính, nguồn nhân lực, cơ cấu tổ chức, sản phẩm dịch vụ…
Nguồn lực tài chính của ngân hàng được xem xét dựa trên các yếu tố như quy
mô chủ sở hữu ( ngân hàng lớn có quy mô chủ sở hữu lớn, hoạt động sẽ an toàn hơn),
quy mô kết cấu tài sản, kết cấu nguồn vốn có hợp lí không, sự hợp lí thể hiện ở tiềm
lực tài chính vững mạnh, có tác động tích cực, tạo uy tín của ngân hàng đối với khách
hàng.
Ngoài ra, trong nền kinh tế tri thức ngày nay, nguồn nhân lực đóng vai trò trung
tâm. Nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có khả
năng sáng tạo, ý thức thái độ lao động tốt sẽ nâng cao hiệu quả công việc. Để có
được đội ngũ cán bộ như vậy đòi hỏi phải có một công tác tuyển dụng nghiêm
túc, chặt chẽ đồng thời trong quá trình công tác phải không ngừng nâng cao
chuyên môn. Ngân hàng có thể tổ chức các khóa học ngắn hạn để nâng cao trình
độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên của mình.
Hoạt động của ngân hàng có đem lại doanh thu cao hay không chủ yếu là do sản
phẩm của ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Khách hàng thường quan tâm đến
danh mục sản phẩm dịch vụ có đa dạng hóa không, tính năng thế nào, thái độ phục vụ
của nhân viên ra sao, công nghệ sử dụng cung ứng sản phẩm dịch vụ có hiện đại
không… Vì vậy, để đạt được hiệu quả doanh thu cao nhất, ngân hàng cần có chính
sách sản phẩm, xây dựng cơ cấu sản phẩm hợp lý
Tóm lại hoạt động tài chính của ngân hàng chịu ảnh hưởng, tác động của
nhiều nhân tố. Các nhân tố đan xen nhau, tác động ngược chiều nhau, lúc tạo
thuận lợi, lúc gây khó khăn, ngân hàng cần nắm bắt được các nhân tố này để có
biện pháp kịp thời đảm bảo hoạt động diễn ra thuận lợi đạt hiệu quả cao nhất.
1.3 Phương pháp phân tích
Bùi Thị Hải Anh Lớp: Thống kê 47A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét