* Lạm phát không cân bằng :Tăng không tơng ứng với thu nhập của ng-
ời lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thờng hay xảy ra .
-Lạm phát dự đoán trớc đợc và lạm phát bất thờng
* Lạm phát dự đoán trớc : là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một
thời kì tơng đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn .Loại lạm phát này có
thể dự đoán trớc đợc tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt tâm lý ,ngời
dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trớc.Do đó không
gây ảnh hởng đến đời sống ,đến kinh tế .
* Lạm phát bất thờng: xảy ra đột biến mà có thể từ trớc cha xuất hiện
.Loại lạm phát này ảnh hởng đến tâm lý ,đời sống ngời dân vì họ cha kịp thích
nghi .Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và
niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nớc ta đang phát
triển thờng diễn ra trong thời gian dài ,vì vậy hậu quả của nó phức tạp và
trầm trọng hơn .Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác
nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dới 50% một
năm ,lạm phát nghiêm trọng thờng kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên
50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một
năm .
3. Tác Động của lạm phát :
Lạm phát có nhiều loại,cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hởng của
lạm phát đối với nền kinh tế .Xét trên góc độ tơng quan ,trong một nền kinh
tế lạm phát là một nỗi lo của toàn xã hội và ta cũng thấy đợc các tác động của
nó .
a) Tác động đến lĩnh vực sản xuất :
ở vị trí các nhà sản xuất ,khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu vào
và đầu ra biến động không ngừng gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản
xuất. Sự mất giá của đồng tiền làm cho vô hiệu hoá hoạt động hoạch toán kinh
doanh .Hiệu quả sản xuất kinh doanh ở một vài doanh nghiệp có thể thay
5
đổi gây ra những biến động về kinh tế .Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ
xuất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
Tuy nhiên ,xét ở góc độ nào đó ,khi tỷ lệ lạm phát thấp ,không gây ảnh
hởng đến kinh tế thì có thể sẽ kích thích tăng trởng kinh tế .Từ đó sẽ khuyến
khích các doanh nghiệp đi vay để mở rộng sản xuất ,sản lợng sẽ tăng lên
.Ngoài ra cũng khuyến khích tiêu dùng ,cầu tiêu dùng tăng lên ,do đó hàng
hoá bán chạy và cũng làm sản lợng tăng .
b) Đối với lĩnh vực lu thông:
Lạm phát tăng lên cao thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan
hiếm hàng hoá .Lúc này những ngời thừa tiền và giàu có dùng tiền của mình
để vơ vét và thu gom hàng hoá ,tài sản ,tình trạng này càng làm mất cân đối
nghiêm trọng quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trờng giá cả hàng hoá
tăng lên nhiều hơn .
Ngoài ra khi tỷ lệ lạm phát khó phán đoán thì việc đầu t vốn vào lĩnh
vực sản xuất sẽ gặp phải những rủi ro cao .Do có nhiều ngời tham gia vào lĩnh
vực lu thông lên lĩnh vực này trở lên hỗn loạn .Tiền vừa ở trong tay ngời bán
hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lu thông ,tốc đọ lu thông tiền tệ
tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng .
c) Đối với lĩnh vực tiền tệ ,tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng ,thơng mại và ngân hàng bị thu
hẹp .Số tiền ngời gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền
bị giảm xuống .Về phía hệ thống ngân hàng ,do lợng tiền gửi vào ngân hàng
giảm mạnh nên không đáp ứng đợc nhu cầu của ngời đi vay ,cộng với việc sụt
giá quá nhanh của đồng tiền ,sự điều chỉnh lãi suất tiền gỉ không làm an tâm
những cá nhân ,doanh nghiệp hiện đang có lợng tiền mặt nhàn rỗi trong
tay.Nh vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn ,hệ thống ngân
hàng phải luôn cố gắng duy trì mứclãi suất ổn định .Mà lãi suất thực = lãi
suất danh nghĩa tỷ lệ lạm phát ,khi tỷ lệ lạm phát tăng cao ,muốn lãi suất
thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát .
6
Trong khi đó ngời đi vay là những ngời có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng
tiền nhanh chóng .Do vậy hoạt động của hệ thống Ngân hàng không còn bình
thờng nữa. Chức năng kinh doanh tiềntệ bị hạn chế, không cònnguyên vẹn bởi
khi có lạm phátthì chẳng có ai tích trữ tiền mặt dới hình thức tiền mặt.
d) Tác động đến cán cân ngân sách chính sách tài chính của nhà
nớc :
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lợng hàng hoá,
khi lạm phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động
của giá cả và làm cho thị trờng bị rối loạn. Khi đó ngời ta khó phân biệt đợc
những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nớc thiếu vốn,
các khoản thu cho ngân sách nhà nớc không tăng. Do đó, nhà nớc không còn
đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội, các nghành, các
lĩnh vực dự định đợc chính phủ đầu t hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có
gì. Một khi ngân sách nhà nớc bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng
cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện để thực hiện.
4. Nguyên nhân gây ra lạm phát :
a) Lạm phát do cầu kéo :
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu. Nguyên nhân
chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng
không kịp.
Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng
cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nhng đây không phải là nguyên nhân duy nhất
làm tăng cầu. áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng
hoá vợt quá mức cung, song sản xuất vẫn không đợc mở rộng hoặc do sử dung
máy móc với công suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng đợc
sự ra tăng của cầu. Sự mất cân đối sẽ đợc giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do
cầu tăng lên (lạm phát do cầu kém xuất hiện. Chẳng hạn nh ở Mỹ, sử dụng
công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tơng lai ở
Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng
7
AS
3
AS
2
3
2'
AS
1
AD
3
AD
2
AD
1 Y
(Tổng sản phẩm)
Y
t
Y
n
1'
1
P
P
3
P
2
P
1
0
(Tổng mức giá)
2
Lúc đầu nền kinh tế đạt ở mức cân bằng tại điểm 1 .Khi các nhà hoạch
định chính sách muốn có một tỷ lệ thất nghiệp dới mức tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên , họ sẽ đa ra những biện pháp nhằm đạt đợc chỉ tiêu sản lợng lớn hơn
mức sản lợng tiềm năng (Yt > Yn).Từ đó sẽ làm tăng tổng cầu và đờng tổng
cầu sẽ dịch chuyển đến AD2 nền kinh tế chuyển đến điểm 1 .Lúc này sản l-
ợng đã đạt tới mức Yt lớn hơn sản lợng tiềm năng và mục tiêu của các nhà
hoạch định chính sách đã thực hiện đợc .
Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp thực tế thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
nên tiền lơng tăng và đờng tổng cung sẽ di chuyển đến AS2 ,đa nền kinh tế từ
điểm 1 sang 2 .Nền kinh tế quay trở về mức sản lợng tiềm năng và tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên nhng ở một mức giá cả P2 > P1 .Lúc này tỷ lệ thất nghiệp
lại cao hơn mục tiêu ban đầu .Do đó các nhà hoạch định chính sách lại tìm
cách làm tăng tổng cầu .Quá trình này cứ tiếp diễn và đẩy giá cả trong nền
kinh tế lên cao hơn .
b) Lạm phát do chi phí đẩy :
Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phat sinh từ phía cung ,do chi phí
sản xuất cao hơn đã đợc chuyển sang ngời tiêu dùng .Điều này chỉ có thể đạt
trong giai đoạn tăng trởng kinh tế khi ngời tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao
hơn .Ví dụ : Nếu tiền lơng chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và
dịch vụ và nếu tiền lơng tăng nhanh hơn năng xuất lao động thì tổng chi phí
sản xuất sẽ tăng lên .Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho
ngời tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên ,công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu
8
tiền lơng cao hơn trớc đẻ phù hợp với chi phí sinh hoạt tang lên điều đó tạo
vòng xoáy lợng giá .
Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng do tỷ giá
tăng hợac khả năng khả thác hạn chế.Một ví dụ điển hình cho thấy giá cả
nguyên nhiên vật liệu là giá dầu thô tăng .Trong năm 1972-1974 hầu nh giá
dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ 4,6% đến 13,5% bình quân
trên qoàn thế giới .Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát
giảm xuống mức thấp cha từng thấy .
Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn đợc chuyển cho ngời tiêu dùng nội địa
cũng là một yếu tố gaay lên lạm phát .Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng
nội tệ yếu đi hợac mất giá so với đồng tiền khác
c) Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ ,khi cung
tiền tệ tăng lên kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát
.Có thể thấy ngỡng tăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng
.Khi nền kinh tế cha toàn dụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều
,cha khai thác nhiều .Có nhiều nhà máy xí nghiệp bị đóng cửa cha đi vào hoạt
động .Do đó nhân viên nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất nghiệp cao Trong tr ờng
hợp này ,khi tăng cung tiền thì dẫn đến lãi xuất giảm đến một mức độ nào
đó ,các nhà đầu t thấy rằng có thể có lãi và đầu t tăng nhiều.từ đó các nhà máy
,xí nghiệp mở cửa để sản xuất ,kinh doanh .Lúc này nguyên nhiên vật liệu bắt
đầu đợc khai thác ,ngời lao động có việc làm và sản lợng tăng lên .
ở nền kinh tế toàn dụng ,các nhà máy ,xí nghiệp đợc hoạt động hết
công suất ,nguồn nguyên nhiên vật liệu đợc khai thác tối đa .Khi đó lực lợng
lao động đợc sử dụng một cách triệt để và làm sản lợng tăng lên rất nhiều.Tuy
nhiên tình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lu thông .Chẳng hạn
khi các nhà máy ,xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn đến thiếu năng l-
ợng ,thiếu lao động ,nguyên vật liệu dần bị han hiếm Vai trò của chính phủ
và các nhà quản lý phải xác định đợc kênh lu thông nào bị tắc nghẽn và tìm
9
cách khơi thông nó .Nếu không sẽ gây ra lạm phát.Lúc đó sản lợng không
tăng mà giá cả tăng nhiều thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra .
Trong việc chống lạm phát các Ngân hàng trung ơng luôn giảm sút việc
cung tiền .
Trờng hợp tăng cung tiền có thể đạt đợc bằng hai cách :
Ngân hàng trung ơng in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều kiện
kinh doanh tốt ) hợac các ngân hàng thơng mại có thẻ tăng tín dụng .Trong cả
hai trờng hợp sẵn có lợng tiền nhiều hơn cho dân c và chi phí .Về mặt trung và
dài hạn ,điều đó dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ tăng .Nếu cung không
tăng tơng ứng với cầu thì việc d cầu sẽ đợc bù đắp bằng việc tăng giá.Tuy
nhiên giá cả sẽ không tăng ngay nhng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm .In tiền để
trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng .Ví dụ năm
1966-1967 ,chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho những chi phí
leo thang của cuộc chiến tranh taị Việt Nam ,lạm phát tăng từ 3%(năm 1967)
đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi xuất thực tế (i) và sản lợng thực tế (Y) đạt mức cân
bằng ,nghĩa là (i) và (Y) ổn định .Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P
cũng không đổi .Suy ra khi lợng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ
tăng lên với tỷ lệ tơng ứng .Vậy lạm phát là một hiện tợng tiền tệ .Đây cũng
chính là lý do tại sao Ngân hàng Trung ơng rất chú trọng đến nguyên nhân
này.
d) Các nguyên nhân khác
Ngoài các nguyên nhân chủ yếu đã đề cập ở trên ,một số các nguyên
nhân khác cũng gây ra lạm phát .Thứ nhất có thể kể đến là tâm lý của dân c
.Khi ngời dân không tin tởng vào đồng tiền của Nhà nớc ,họ sẽ không giữ tiền
mà đẩy vào lu thông bằng việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu t vào một lĩnh
lực kinh doanh nào đó Nh thế cầu sẽ tăng lên mà cung cấp không đáp ứng
đợc cân bằng cung cầu trên thị trờng hang hoá không còn nữa và tiếp tục đẩy
giá lên cao ,từ đó lạm phát sẽ xảy ra .Có thể thấy giá cả tăng lên làm tiêu dùng
tăng ,cứ nh vậy sẽ gây ra xoáy ốc lạm phát.Thứ hai thâm hụt ngân sách cũng
10
có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát
cao.
Khi chính phủ lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách thì có thể khắc
phục bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ đẻe vay vốn từ ngời dân nhằm
bù đắp phần thiếu hụt .Biện pháp này không làm ảnh hởng đến cơ số tiền và
do vậy mà làm tăng mức cung ứng tiền tệ và không gây ra lạm phát .Tuy nhiên
khi sự thâm hụt trầm trọng và kéo dài thì chính phủ phải áp dụng biện pháp in
tiền.Việc phát hành tiền sẽ ảnh hởng đến cơ số tiền tệ làm tăng mức cung ứng
tiền ,đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng thêm tỷ lệ lạm phát .TUy nhiên,đối với
các nớc đang phát triển ,việc phát hành trái phiếu chính phủ gặp nhiều khó
khăn vì nguồn vốn trên thị trờng còn hạn chế .Biện pháp in tiền đợc coi là có
hiệu quả nhất .Vì thế mà khi thâm hụt ngân sách càng nhiều và càng kéo dài
thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn.
Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc phát hành
trái phiếu có lợi hơn.Nhng việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ
tăng và lãi xuất tăng cao hơn .Lúc này để giảm lãi xuất trên thị tròng Ngân
hàng Trung ơng lại phải mua vào các trái phiếu đó .Nh thế mức cung tiền lại
tăng lên và dễ gây lạm phát.
Tóm lại , nếu nh thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trờng hợp
vẫn làm tăng cung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn.
Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái .Khi tỷ
giá tăng đồng bản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những ngời sản xuất trong n-
ớc muốn đẩy giá hàng lên tơng ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái .Mặt khac khi
tỷ giá hối đoái tăng ,chi phí cho các nguyên vật liệu ,hàng hoá nhập khẩu sẽ
tăng lên .Do đó giá cả của các hàng hoá này tăng lên cao.Đây chính là lạm
phát do chi phí đẩy
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nớc
,chính sách thuế ,chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý ,mất cân đối cũng
xảy ra lạm phát.
5. Biện pháp khắc phục lạm phát
11
Khi lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ gây ra những hậu quả lớn ,ảnh h-
ởng trầm trọng đến đời sống nhân dân lao động và sự tăng trởng kinh tế. ở
mỗi nớc tỷ lệ lạm phát khác nhau với những nguyên nhân và tác động khác
nhau .Do đó chính phủ ở các nớc sẽ có những biện pháp khác nhau . Tuỳ vào
từng hoàn cảnh cụ thể chính phủ sẽ áp dụng biện pháp tình thế và các biện
pháp có tính chiến lợc .
Từ lịch sử chống lạm phát ở các nớc sẽ có những biện pháp điển hình
sau:
- Những biện pháp tình thế: là những biện pháp áp dụng nhằm làm giảm
tức thời cơn sốt lạm phát
Đầu tiên biện pháp tình thế mà các nớc thờng áp dụng là giảm lợng
tiền cung ứng trong lu thông .Đây đợc gọi là biện pháp thắt chặt lợng cung
tiền tệ hay còn gọi là đóng bảng tiền tệ .Cụ thể là Ngân hàng trung ơng ngừng
thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín
dụng ,dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ
,không phát hành tiền đề bù đắp bội chi ngân sách nhà nớc .Bên cạnh đó
,đểlàm giảm lợng tiền cung ứng thì ngân hàng trung ơng sẽ bán các chứng
khoán ngắn hạn ,bán ngoại tệ ,phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay
tiền trong nền kinh tế .Và ngân hàng cũng có thể ấn định mức lãi xuất cao ,từ
đó sẽ khuyến khích ngời dân gửi tiền vào ngân hàng ,doanh nghiệp gửi tiền
không kì hạn ,dẫn đến lợng tiền trong lu thông giảm.
Tiếp đến ,đẻ khắc phục lạm phát chính phủ có thể sử dụng biện pháp
thắt chặt chi tiêu của mình nh giảm cầu tiêu dùng của chính phủ ,làm giảm sự
tăng nhanh của tổng cầu .Nhà nớc cũng có thể hạn chế tăng tiền lơng làm
giảm lợng cầu chi tiêu của dân c.Ngoài ra chính phủ có thể đi vay và xin viện
trợ từ nớc ngoài Một biện pháp nữa đ ợc áp dụng là cải cách tiền tệ khi tỷ lệ
lạm phát tăng quá cao trong khi các biện pháp nêu trên cha đạt đợc hiệu quả.
- Cùng với những biện pháp tình thế ,các nớc còn sử dụng các biện pháp
chiến lợc nhằm tác động đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế và làm cho
cơ số tiền tệ ổn định bền vững .Đó là các biện pháp :
12
Đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng hoá ,mở rộng lu thông hàng hoá
.Hàng hoá trong nớc ngày càng nhiều ,quỹ hang tăng lên với số lợng ,chủng
loại đa dạng phong phú .Ngoài ra chính phủ còn nhập hàng hoá về để bổ xung
cho hàng hoá thiếu hụt trong nớc .Xuất kho dự trữ vàng và ngoại tệ để bán cho
dân chúng ,phát triển các ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu và ngành du lịch
.
Các doanh nghiệp thực hiện chiến lợc cạnh tranh hoàn hảo :Sản phẩm
để ngời tiêu dùng chấp nhận đợc là yếu tố quan trọng .Nh vậy cần phải cạnh
tranh giá cả bằng việc tìm mọi cách giảm chi phí .
Biện pháp chiến lợc khác là kiện toàn bộ máy hành chính ,cắt giảm biên chế
quản lý hành chính .Điều này sẽ làm giảm mức chi tiêu thờng xuyên của
Ngân sách nhà nớc .Mặt khác cần phải tăng cờng công tác quản lý điều hành
Ngân sách nhà nớc dựa trên việc tăng các khoản thu cho Ngân sách một cách
hợp lý chống thất thu nh thất thu về thuế và điều chỉnh các khoản chi p
Phần II
thực trạng lạm phát ở việt nam
1. Thực trạng và lịch sử lạm phát ở Việt Nam.
Từ năm 1980 trở về trớc, lạm phát cũng đã tồn tại của nó không công
khai, các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam không sử dụng khái niệm
lạm phát mà chỉ sử dụng cụm từ chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và
tiền" "Thị trờng vật giá không ổn định
Sau một thời gian, lạm phát đã bộc phát công khai với mức bộc phát phi
mã. Đảng đã kịp thời nhận định tình hình này.
Chúng ta cha có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính sách
đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang nặng tính
bao cấp và một thời gian dài vợt quá nguồn thu. Việc sử dụng vốn vay và viện
trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến thâm hụt ngân sách trầm trọng .
13
Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới
đều phải quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ để chống lạm phát. Đối với
nớc ta hiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề lớn đặt
ra trong điều hành của chính phủ, của các nhà quản lý vì sự phát triển và ổn
định. Và về phơng diện này, Việt Nam đã thành công. Lạm phát đã giảm từ
hơn 70% một năm vào năm 1986 xuống còn 35% một năm vào năm 1989.
Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả từ nhiều yếu tố nh tự do hoá nền
kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tế hơn, ngơi dân không còn tồn trữ
hàng hoá, vàng và đô la bắt đầu tích luỹ bằng đồng tiền trong nớc, xuất khẩu
dàu thô ngày càng tăng Tuy nhiên, những tiến bộ v ợt bậc trong năm 1989 đã
không đợc củng cố ngay bằng các chính sách tiền tệ và tài khoản thận trọng,
do đó trong các nhu năm 1992 và 1993, giá cả đã tăng gần 70% năm.
Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam có thể chia thành những thời kỳ nh
sau :
- Giai đoạn thứ nhất : Từ năm 1980 trở về trớc, lạm phát đợc hiểu giống
nh định nghĩa của Mác, cho nên chống lạm phát là tìm mọi cách hạn chế việc
phát hành tiền vào la thông.
- Thời kỳ 1938-1945 : Ngân hàng Đông Dơng cấu kết với chính quyền
thực dân Pháp đã lạm phát đồng tiền Đông Dơng để vo vét của cải của nhân
dân Việt Nam. Số tiền đó đợc đem về Pháp đóng góp cho cuộc chiến chống
phát xít Đức. Hậu quả năng nề của lạm phát là nhân dân Việt Nam phải chịu
giá sinh hoạt từ năm 1939-1945 bình quân là 25 lần.
- Thời kỳ 1946-1954 : chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay cho
đòng Đông Dơng và sau đó là đòng ngân hàng thay cho sức ngời, sức của toàn
dân tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lợc Pháp, kết quả
giải phóng hoàn toàn nửa đất nớc.
- Thời kỳ 1955-1965 : chính phủ tay sai Mỹ ở miền Nam Việt Nam liên
tục lạm phát đồng tiền miền Nam để bù lại cuộc chiến tranh chống lại phong
trào giải phóng dân tộc ở miền Nam. Mặc dù đợc chính phủ Mỹ đổ vào miền
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét