Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Vai trò của hoạt động đầu tư

Đề bài: Vai trò của đầu t đối với sự hình thành và phát triển
doanh nghiệp và sự tăng trởng của nền kinh tế.
Có thể vận dụng lý thuyết nào để tăng cờng hoạt động đầu t trong
nền kinh tế Việt Nam.
Tăng trởng kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia. Để thực
hiện và duy trì đợc mục tiêu đó, mỗi nớc sẽ có những chính sách và những bớc
đi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên dù là quốc gia nào cũng phải trả
lời câu hỏi nguồn lực cho đầu t phát triển kinh tế ở đâu và cách thức để huy
động những nguồn lực ấy nh thế nào?. Thật vậy, trong xu thế toàn cầu hoá nền
kinh tế hiện nay, muốn tồn tại và phát triển đợc mỗi nền kinh tế đều phải phát
huy nội lực trong nớc kết hợp với các nguồn lực bên ngoài. Thực tiễn 15 năm
đổi mới kinh tế ở Việt Nam cho thấy hoạt động đầu t trong nớc và đầu t nớc
ngoài luôn phải song hành và hoạt động vì mục tiêu tăng trởng và phát triển
kinh tế.
I. Vai trò của hoạt động đầu t
1. Vai trò của đầu t đối với sự hình thành và phát triển doanh
nghiệp
Đầu t là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng
trởng của doanh nghiệp. Trong hoạt động đầu t, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn
nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục
tiêu kinh doanh. Hoạt động này đợc thực hiện tập trung thông qua việc thực
hiện các dự án đầu t.
Dự án đầu t là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục
tiêu, phơng pháp và phơng tiện cụ thể để đạt tới một trạng thái mong muốn.
Nội dung của dự án đầu t đợc thể hiện trong luận chứng kinh tế kỹ thuật, là
văn bản phản ánh trung thực, chính xác về kết quả nghiên cứu thị trờng, môi
trờng kinh tế kỹ thuật và môi trờng pháp lý, về tình hình tài chính
Để đáp ứng mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, doanh
nghiệp cần có chiến lợc trong việc tìm kiếm và lựa chọn các dự án đầu t. Nếu
không có những ý tởng mới và dự án đầu t mới, doanh nghiệp sẽ không thể tồn
tại và phát triển đợc, đặc biệt là trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trờng đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ
thị trờng và có những hoạt động đầu t thích hợp nhằm gia tăng khả năng cạnh
tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp.
Tuỳ theo mục đích của mỗi doanh nghiệp nhằm phát triển sản phẩm
mới, kéo dài tuổi thọ sản phẩm hay làm tăng khả năng thu lợi cho sản phẩm
hiện có mà có thể phân loại đầu t doanh nghiệp theo những tiêu thức khác
nhau. Theo cơ cấu tài sản đầu t có thể phân loại đầu t của doanh nghiệp
thành:
Đầu t tài sản cố định, đây là các hoạt động đầu t nhằm mua sắm, cải
tạo, mở rộng tài sản cố định của doanh nghiệp. Đầu t tài sản cố định thờng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu t của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp sản xuất. Loại đầu t này bao gồm: đầu t xây lắp; đầu t mua sắm máy
móc thiết bị, đầu t tài sản cố định khác.
Đầu t tài sản lu động, đây là khoản đầu t nhằm hình thành các tài sản lu
động cần thiết để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đợc tiến hành bình thờng. Nhu cầu đầu t vào tài sản lu động phụ thuộc
vào đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh; vào nhu cầu tăng trởng của
doanh nghiệp.
Đầu t tài sản tài chính, các doanh nghiệp có thể mua cổ phiếu, trái
phiếu, hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác. Hoạt
động tài chính ngày càng có tỷ trọng cao và mang lại nhiều lợi ích cho các
doanh nghiệp.
Đầu t theo cơ cấu tài sản đầu t giúp cho các doanh nghiệp xây dựng đợc
một kết cấu tài sản thích hợp nhằm đa dạng hoá đầu t, tận dụng đợc năng lực
sản xuất và năng lực hoạt động, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động đầu t.
Có thể căn cứ vào mục đích đầu t có thể phân loại đầu t ra thành: đầu
t tăng năng lực sản xuất, đầu t đổi mới sản phẩm, đầu t nâng cao chất lợng sản
phẩm, đầu t mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm Hoạt động đầu t phân theo
mục đích đầu t có vai trò định hớng cho các nhà quản trị doanh nghiệp xác
định hớng đầu t và kiểm soát đợc tình hình đầu t theo những mục tiêu đã chọn.
Nh vậy, có thể nói hoạt động đầu t là một trong những quyết định có ý
nghĩa chiến lợc đối với doanh nghiệp. Đây là quyết định tài trợ dài hạn, có tác
động lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những sai lầm
trong việc dự toán vốn đầu t có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm
chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu t có vai trò
rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp đòi
hỏi các quyết định đầu t phải đợc tính toán và cân nhắc kỹ lỡng.
2. Vai trò của đầu t đối với sự tăng trởng của nền kinh tế
Hoạt động đầu t trên phơng diện vĩ mô một nền kinh tế bao gồm hoạt
động đầu t trong nớc và hoạt động đầu t nớc ngoài. Trong đó, hoạt động đầu t
trong nớc và đầu t nớc ngoài có mối quan hệ hữu cơ với nhau, chúng có tác
động lẫn nhau và thúc đẩy quá trình tăng trởng của nền kinh tế.
Đầu t trong nớc có hiệu quả sẽ xây dựng đợc một nền kinh tế ổn định có
tốc độ tăng trởng nhanh, có cơ sở hạ tầng hiện đại và cơ sở pháp lý lành mạnh,
tạo ra tiền đề để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả đầu t nớc ngoài. Nguồn vốn
đầu t trong nớc của các doanh nghiệp tự đầu t để mở rộng sản xuất kinh doanh
có ý nghĩa to lớn trong việc tạo ra khả năng tốt cho đầu t nớc ngoài. Vì hoạt
động đầu t nớc ngoài hoạt động chủ yếu thông qua các công ty xuyên quốc
gia, mà các công ty này rất cần tìm chọn đối tác đầu t là các công ty tơng xứng
ở các nớc nhận đầu t. Chính vì vậy mà trong những năm vừa qua chúng ta đã
có nhiều biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp tự đầu t phát triển sản
xuất, gần đây chính phủ đã thực hiện việc xắp xếp các doanh nghiệp nhà nớc,
một mặt cũng là để các doanh nghiệp này có khả năng nâng cao hiệu quả kinh
doanh với nớc ngoài.
Nhờ có đầu t trong nớc để tạo ra một hệ thống công ngiệp phụ trợ thì
hoạt động đầu t nớc ngoài mới đợc thực hiện với hiệu quả cao. Thông thờng
khi có một đồng vốn đầu t nớc ngoài thì cũng cần phải có hai ba đồng vốn
bên ngoài hàng rào.
ảnh hởng của đầu t nớc ngoài với tăng trởng kinh tế:
Xét về hiệu quả tài chính thì vốn đầu t nớc ngoài đã đóng góp đáng kể
vào ngân sách nhà nớc, qua việc nhận viện trợ, vay tín dụng và qua thu thuế
đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI). Qua đó bổ sung nguồn vốn quan trọng
cho đầu t phát triển, mặc dù vốn FDI thờng chiếm tỷ trọng không lớn trong
tổng mức đầu t của các nớc chủ nhà nhng đáng lu ý là vốn FDI cho phép tạo ra
các ngành mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự phát triển của một số ngành quan
trọng trong quá trình công nghiệp hoá đất nớc. Sự phát triển của các ngành này
tạo điều kiện để phát triển cơ sở hạ tần, giảm nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu,
tăng thu cho ngân sách nhà nớc và góp phần cải thiện cán cân thanh toán của
đất nớc, nhờ đó đảm bảo tăng trởng kinh tế.
Hoạt động đầu t nớc ngoài gắn liền với việc chuyển giao công nghệ kỹ
thuật, kỹ xảo chuyên môn, bí quyết và trình độ quản lý tiên tiến. Các liên
doanh của Việt Nam với nớc ngoài đã làm tăng tính cạnh tranh của thị trờng
Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp trong nớc nỗ lực đổi mới công nghệ,
nâng cao chất lợng sản phẩm.
Thông qua hoạt động đầu t nớc ngoài, các nguồn lực trong nớc nh lao
động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên đợc huy động ở mức cao và sử dụng có
hiệu quả, cung cấp cho thị trờng trong nớc nhiều sản phẩm, mặt hàng và dịch
vụ có chất lợng cao, góp phần giảm áp lực tiêu dùng, ổn định giá cả.
Đầu t nớc ngoài tạo thêm việc làm và góp phần nâng cao trình độ
chuyên môn và quản ký cho ngời lao động. FDI tạo thêm việc làm không chỉ
cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài mà còn gián tiếp tạo việc làm
cho các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động FDI nh các doanh nghiệp cung
cấp các yếu tố đầu vào; doanh nghiệp phân phối, tiêu thụ sản phẩm.
FDI góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo hớng phù hợp với chiến lợc
công nghiệp hoá của nớc chủ nhà. Ngoài ra, hoạt động FDI còn tạo ra một môi
trờng kinh doanh ngày càng khốc liệt, góp phần hình thành và khẳng định bản
lĩnh kinh doanh cho các doanh nhân Việt Nam.
Đầu t trong nớc và đầu t nớc ngoài có vị trí khác nhau nhng là hai bộ
phận của cùng một quá trình đầu t, nó gắn bó đan kết với nhau, hỗ trợ bổ sung
cho nhau cùng thúc đẩy tăng trởng kinh tế
II. ứng dụng một số lý thuyết đầu t nhằm tăng cờng
hoạt động đầu t trong nền kinh tế Việt Nam
1. Lý thuyết q về đầu t với chính sách tiền tệ và chính sách phát
triển thị trờng chứng khoán ở Việt Nam.
Theo lý thuyết trên đã chỉ ra:
q= Giá trị thị trờng của thiết bị lắp đặt/ Chi phí thay thế thiết bị lắp đặt
q>1 tức là: với mức đánh giá trên thị trờng lớn hơn giá trị thực tế của công
cuộc đầu t thì ngời ta sẽ đầu t mở rộng sản xuất. Chính sách tiền tệ ở đây có
tác động ở chỗ: khi giảm i tức là giảm chi phí đầu vào khi gia tăng qui mô sản
xuất, từ đó sẽ khuyến khích nhà đầu t bỏ vốn để đầu t theo chiều sâu hay tăng
theo chiều rộng. Thông qua lý thuyết này các nhà đầu t đã phát hiện ra một
phơng thức huy động vốn lớn qua thị trờng chứng khoán ở Việt Nam, thị trờng
này đã đợc hình thành và phát triển song rất còn non trẻ. Chủ thể phát hành rất
đa dạng: từ chính phủ Trung ơng, chính quyền địa phơng, một số tổ chức tài
chính, công ty TNHH, công ty cổ phần Các chứng khoán đợc lu hành rộng
rãi trên thị trờng cũng rất phong phú nh các trái phiếu, cổ phiếu, các loại
chứng khoán tái sinh Giá trị thị trờng của doanh nghiệp là tổng số giá trị thị
trờng của các cổ phiếu thờng, cổ phiếu u đãi cũng nh giá trị vay nợ thuần của
doanh nghiệp. Nếu con số này càng tăng nghĩa là doanh nghiệp càng huy động
đợc nhiều vốn, có uy tín trên thị trờng và có khả năng mở rộng quy mô sản
xuất. Nhiệm vụ của các công ty này là làm sao sản xuất kinh doanh có hiệu
quả tạo lập đợc niềm tin với các nhà đầu t vào lĩnh vực này.
Trong nền kinh tế thị trờng, huy đông vốn thông qua TTCK đợc coi là
một phơng thức khá hấp dẫn đối với các doanh nghiệp. Bởi vậy không chỉ các
nớc phát triển mà ngay cả các nớc đang phát triển các doanh nghiệp đợc tạo
nhiều thuận lợi đợc tiếp cận với các hoạt động trên TTCK. Chính phơng pháp
tạo vốn này làm cho hoạt đông trên TTCK trở lên sôi động hơn và hiệu quả
hơn. Đến lợt mình TTCK sôi động và hiệu quả sẽ tác động tích cực tới việc tạo
vốn cho DN.
VN hiện nay hớng tạo vốn cho các DN đặc biệt là các DN vừa và nhỏ
trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay là chủ đề đang đợc quan tâm trong
các nhà quản lý DN mà còn thu hút s quan tâm của các cơ quan nhà nớc, các
bộ ngành, các địa phơng và của các nhà nghiên cứu. Vì lẽ đó rất nhiều công
trình nghiên cứu nhiều dự án về hình thức cung ứng vốn cho DN đợc thiết lập
và thực hiện. Một trong những vấn đề quan tâm đó" tạo vốn cho các doanh
nghiệp thông qua TTCK". Thực tế cho thấy, trong thời gian qua các doanh
nghiệp Việt Nam nhất là các DN nhỏ và vừa đã quen với hình thức huy động
truyền thống, các DN hầu nh cha tiếp cận đợc với TTCK mặc dù họ cũng có
không ít những cố gắng. Có thể khái quát lại những công việc đã đợc triển
khai thực hiện trong thời gian qua theo hớng tạo tạo vốn cho các DN thông
qua TTCK trên một số khía cạnh sau. Rõ ràng là muốn cho các DN tìm kiếm
đợc nguồn vốn huy động từ TTCK thì điều đầu tiên phải có đợc TTCK, nơi các
DN có thể nhận đợc tiền từ nhà đầu t. Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động của
TTGDCK TP HCM cho thấy: Sau hơn 2 năm hoạt động hiện nay đã có 22
công ty tham gia niêm yết cổ phiéu trên thị trờng GDCK TP HCM . Từ một
khía cạnh nào đó 22 công ty niêm yết có thể đợc xem nh một bớc thành công
đáng kể của TTCK Việt Nam. Nhng con số đó còn quá nhỏ so với số lợng DN
hiện có. Vậy nguyên nhân do đâu mà các DN cha tam gia nhiều vàoTTCK, đó là:
Thứ nhất: là về điều kiện phát hành trái phiếu cổ phiếu, phải tạo một sân
chơi lành mạnh công khai nhng với các điều kiện khắt khe, nhiều công ty cha
đủ điều kiện tham gia.
Thứ hai: Trong tiến trình cổ phần hoá DN nhà nớc đang ở mức chậm do
nhiều nguyên nhân nh tâm lý quản lí
Thứ ba: Có thể là bản thân các DN cha muốn tham gia TTCK là do một
số nguyên nhân: ban lãnh đạo không có khả năng thiết lập đầy đủ hồ sơ để
chứng minh sự minh bạch, và ăn nên làm ra của DN để tạo niềm tin cho các
nhà đầu t, ban lãnh đạo cũng không muốn chia sẻ lợi ích tạo ra của doanh
nghiệp cho nhiều ngời. Vì vậy vấn đề đặt ra là phải phổ cập kiến thức về
TTCK để hoạt động trên thị trờng này càng phát triển và sôi động hơn.
Công cụ thuế ở đây cũng có tác động rất lớn: thuế đánh vào các dòng
chảy t bản cũng tác động trực tiếp tới hoạt động của thị trờng chứng khoán.
Thuế thu nhập doanh nghiệp mà cao với mức rủi ro lớn nh vậy thì cũng dẫn
đến tình trạng nhà đầu t ngại ngần không tham gia thị trờng chứng khoán, thà
gửi vào ngân hàng với lãi suất thấp ít rủi ro còn hơn là mất nhiều khi rủi ro
trong đầu t chứng khoán xảy ra. Cho nên đánh thuế thấp vào các dòng chảy t
bản cũng là một biện pháp khuyến khích đầu t phát triển thị trờng chứng
khoán.
2 . Lý thuyết gia tốc về đầu t với vấn đề huy động vốn để tăng trởng
kinh tế ở nớc ta
Lý thuyết này nói rằng cần phải có một lợng vốn nhất định để sản xuất
ra một lợng sản phẩm đầu ra cho trớc. Nếu nh sản lợng tăng thì cũng cần phải
có lợng vốn tăng. Tổng không thay đổi thì các hãng cũng không có động lực gì
để mở rộng quy mô sản xuất nhng tổng đầu t vẫn là một số dơng bởi các hàng
cũng phải thay thế máy móc, thiết bị đã sử dụng. Nhìn ở khía cạnh khác thì lí
thuyết này cũng có một số điểm hạn chế nh: chỉ xem xét yếu tố vốn có tác
động đến sản lợng còn các yếu tố nh: thu nhập, khoa học kỹ thuật, ngân sách
cận biên giảm dần khi sử dụng một yếu tố đầu vào
Trong trạng thái nền kinh tế xã hội của nớc ta hiện nay, lao động d thừa;
nếu có nhu cầu lao động tăng lên thi có thể sử dụng số lao động d thừa hay
làm tăng quy mô sản lợng. Tất nhiên, năng suất lao động lao động sẽ không
cao đợc bằng nếu ta dùng máy móc thiết bị hiện đại. Tình hình thu hút vốn của
các nớc đang phát triển nói chung và nớc ta nói riêng còn nhiều hạn chế do có
nhiều nguyên nhân khác nhau: Do sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ
thuật. Ngoài ra, cơ chế phân bố vốn đầu t trong xây dựng cơ bản còn có nhiều
thất thoát. Máy móc dây tryền công nghệ nhập ngoại nhng chỉ là phần cứng
không khai thác sử dụng hết chức năng máy móc đó gây lãng phí rất lớn. Vì
thế ở đây có thể chỉ ra một nhợc điểm rất lớn từ lý thuyết này: Đó là năng lực
sử dụng đồng vốn ở mức độ nh thế nào. Nếu năng lực của đồng vốn cha đợc sử
dụng hết mà có sự gia tăng của nhu cầu đó thì có thể tận dụng hết mà nếu có
sự gia tăng của cầu thì có thể tận dụng hết năng lực của đồng vốn đầu t sẵn có
chứ không cần phải tăng thêm vốn. ở đây muốn nhấn mạnh đến tính hiệu quả
trên một đồng vốn đợc sử dụng. Hàng năm, nguồn vốn từ nớc ngoài chảy vào
chiếm trên dới 30% còn lại 70% là thu hút từ nguồn trong nớc. Tiềm năng thu
hút vốn còn có khả năng tăng song việc sử dụng vốn còn gây nhiều lãng phí sử
dụng cha hiệu quả; gánh nặng nợ nần chồng chất làm giảm lòng tin của các
nhà tài trợ.
Theo lý thuyết này tổng chi phí tăng làm cho sản lợng đầu ra tăng lên
do đó khối lợng vốn của nền kinh tế tăng lên, do đó chính sách tiền tệ cũng là
một chính sách khá căn bản tác động đến cầu đầu t. Lãi suất giảm làm cầu đầu
t tăng lên, DN sẽ mở rộng sản suất tăng qui mô. Vì vậy mấu chốt ở đây là kích
cầu làm tăng sản lợng. Chính sách này đi vào hai hớng căn bản là cầu đầu t và
cầu tiêu dùng: Nhà nớc hàng năm bỏ ra một lợng vốn rất lớn vào việc xây
dựng hạ tầng nền kinh tế, phát triển đồng đều giữa các ngành, các vùng trong
cả nớc, có nhiều chính sách gọi vốn đầu t nớc ngoài nh chính sách u đãi về
thuế, tạo một môi trờng kinh doanh ổn định, cũng nh u đãi về hoạt động tín
dụng cho vay
3. Lý thuyết tân cổ điển về đầu t với hoạt động đầu t ở Việt Nam
Theo lý thuyết này thì đầu t sẽ phụ thuộc vào sản lợng đầu ra và giá t-
ơng đối của dịch vụ vốn với giá cả của sản lợng đầu ra. Lãi suất và chính sách
thuế thu nhập đợc xem nh là giá cả của các dịch vụ vốn. Nếu nh để mức lãi
suất quá cao hoặc đánh thuế thu nhập quá cao khiến cho chi phí của dịch vụ
vốn tăng lên đáng kể. Nhà đầu t sẽ thu hẹp đầu t trong khi giá cả của sản lợng
đầu ra không thể tăng một cách tùy ý vì nh thế sẽ không tiêu thụ đợc. Hiện
nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam đã có bớc
chuyển biến mới trong cơ chế vay và cho vay của hệ thống ngân hàng. Từ chỗ
đầu t cố định chuyển sang đầu t thoả thuận với một khối lợng lớn; điều kiện
cho vay để đầu t cũng có phần thông thoáng hơn. Tất nhiên cũng phải đảm bảo
những yếu tố nhất định để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng. Với mức thuế thu
nhập doanh nghiệp hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng hơi cao. Tuy rằng nó tạo
nên một khoản thu rất lớn cho ngân sách nhà nớc song bên cạnh đó nó cũng
tạo ra không ít những kẽ hở trốn thuế, lậu thuế. Vậy nên chăng nhà nớc có thể
xem xét đối chiếu mức thuế này sao cho có sự công bằng giữa những doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và các doanh nghiệp trong nớc, tạo một môi tr-
ờng kinh doanh bình đẳng; nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay. Các doanh nghiệp trong nớc có nhiều cơ hội song những thách thức đến
với họ cũng không phải là nhỏ. Bên cạnh sự cố gắng của các doanh nghiệp
trong việc nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành cạnh tranh, Nhà nớc
cũng phải có các chính sách khuyến khích hỗ trợ đầu t bớc đầu tạo tiềm lực
cho các doanh nghiệp trong nớc. Cũng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn và tiến hành cải cách cơ chế cho vay của nhà nớc; dần tạo nên
tính năng động, tự chủ của các doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp, đơn vị thực hiện đầu t, nguồn hình thành vốn
bao giờ cũng gồm hai phần nguồn cơ bản: vay nợ và vốn chủ sở hữu. Trong đó
đầu t từ quỹ nội bộ (hay vốn chủ sở hữu) đảm bảo tính an toàn nhất trong đầu
t. Nguồn này đợc hình thành chủ yếu từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp. Do
vậy chính sách thuế ảnh hởng rất lớn đến đầu t. Thuế không những là nguồn
thu chủ yếu trong thu ngân sách nhà nớc mà còn là một công cụ quan trọng,
hữu hiệu đợc Nhà nớc sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong từng giai
đoạn lịch sử cụ thể. Thuế khuyến khích cạnh tranh bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế. Thuế làm tăng thu ngân sách, kích thích phát triển sản xuất. Hai
mục tiêu này dờng nh mâu thuẫn nhau nhng nếu điều hoà tốt mối quan hệ giữa
hai mục tiêu này sẽ làm hành lang hoạt động, sáng tạo của thuế. Do đó, điều
tiết các mức thuế phù hợp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội là vô
cùng quan trọng. Giảm thuế, doanh nghiệp và ngời dân có thêm vốn phát triển
sản xuất, kinh doanh. Việc giảm thuế không làm tăng tích tụ vốn ở doanh
nghiệp và ngời dân dẫn đến tăng khả năng tái đầu t mở rộng sản xuất. Từ đó
thu nhập của các doanh nghiệp và ngời dân tăng lên, nộp thuế cho nhà nớc
nhiều hơn. Đồng thời giảm thích còn kích thích ra đời hàng loạt doanh nghiệp
dân doanh. Hiện đang còn tồn tại một lợng tiền rất lớn trong khu vực dân c dới
dạng tiền tiết kiệm tại ngân hàng; tích trữ đồng ngoại tệ, vàng, đầu t vào bất
động sản mà cha đợc khai thác. Tóm lại giảm thuế sẽ kích thích sản xuất phát
triển, tạo ra nhiều việc làm mới dẫn đến tạo ra cầu mới, đến lợt có cầu sẽ kích
thích cung và cuối cùng nguồn thu ngân sách nhà nớc vẫn đảm bảo, nếu không
muốn nói là tăng lên cùng với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng. Ngân
sách nhà nớc tăng sẽ có điều kiện chi cho đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất phát triển và các công trình phúc lợi khác, tức là tăng đầu t chính
sách thuế ở mức độ vừa phải sẽ kích thích đối tợng chịu thuế tìm cách quản lý
kinh doanh hiệu quả, tăng khả năng sinh lời của đồng vốn để có tiền nộp thuế
mà vẫn giữ lại một phần lợi nhuận cho mình. Tuy nhiên, trong lúc tăng trởng
kinh tế toàn cầu đang chững lại, lợi nhuận của cá nhân và doanh nghiệp bị
giảm sút nếu không giảm thuế sẽ không kích thích doanh nghiệp mở mang sản
xuất kinh doanh, thu ngân sách nhà nớc sẽ giảm. Những lúc nh thế chính phủ
phải có chính sách thuế và chi tiêu sao cho có thể hỗ trợ các doanh nghiệp vợt
qua khó khăn. Vậy để chính sách thuế, chi tiêu thực sự trở thành các công cụ
hữu hiệu để kích thích đầu t phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nớc ta phải đa ra các chính sách thuế và chi tiêu hợp lý
trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nớc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét