Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
của tổ chức với những thay đổi trong môi trờng. Hơn nữa, văn hoá cũng có thể gây
cản trở đối với sự thay đổi, sự đa dạng của nguồn lực con ngời trong tổ chức. Bản
thân mỗi ngời lao động có một hệ thống giá trị và niềm tin riêng của họ. Khi làm
việc trong môi trơng có nền văn hoá mạnh, họ cần phải tuân thủ theo những quy
phạm và hệ thống giá trị chung của tổ chức. Nh vậy những mặt mạnh hay những u
thế của từng ngời lao động sẽ phần nào bị hạn chế.
II. Tạo động lực và vai trò của tạo động lực
Một tổ chức chỉ có thể đạt chỉ có thể đạt đợc năng suất cao khi có những
nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức mà
những ngời quản lý sử dụng để tạo động lực cho nhân viên.
Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngời lỗ lực làm
việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất hiệu quả cao.Biểu hiện của động lực là sự
sẵn sàng lỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đợc mục tiêu của tổ chức cũng nh của bản
thân ngời lao động. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn tới năng suất và
hiệu quả công việc vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn
phụ thuộc vào khả năng của ngời lao động, phơng tiện và các nguồn lực để thực hiên
công việc. Ngời lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, ngời lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả
năng thực hiện công việc và có xu hớng ra khỏi tổ chức.
Các nhân tố ảnh hởng tới động lực làm việc của ngời lao động. Các nhân tố
đó có thể phân thành 3 nhóm nh sau:
+ Nhóm nhân tố thuộc về ngời lao động, bao gồm:
-Thái độ, quan điểm của ngời lao động trong công việc và đối với tổ chức
-Nhận thức của ngời lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân
- Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân ngời lao động
+Nhóm nhân tố thuộc về công việc, bao gồm:
- Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp
- Mức độ chuyên môn hoá của công việc
- Mức độ phức của công việc
- Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Mức độ hao phí về trí lực
+ Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức, bao gồm:
- Mục tiêu chiến lợc của tổ chức
- Văn hoá tổ chức
- Lãnh đạo ( quan điểm, phong cách, phơng pháp)
- Quan hệ nhóm
- Các chính sách liên quan tới quyền và nghĩa vụ của ngời lao động, nhất là các
chính sách về quản trị nguồn nhân lực.
Tạo động lực đợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật
quản lý tác động đến ngời lao động nhằm làm cho ngời lao động có động lực trong
công việc. Tạo động lực cho ngời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý.
Một khi ngời lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng
cao năng suất lao động và hiệu quả công tác.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chơng 2: quan hệ giữa văn hoá tổ chức và tác động của
nó tới động lực làm việc của ngời lao động
I. Quan hệ giữa văn hóa tổ chức và tác động của nó tới động lực làm việc của
ngời lao động.
Trớc hết ta phải khẳng định rằng, văn hoá tổ chức là một trong những nhân tố,
một công cụ tác động tới động lực làm việc của ngời lao động. Đa các yếu tố
văn hoá vào kinh doanh là tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Quá trình sản xuất kinh doanh đòi các yếu tố của nó phải có một số lợng và chất l-
ợng nhất định, cũng nh sự kết hợp hài hoà các yếu tố đó. Một trong những yếu tố
cơ bản đó là con ngời, luôn bao hàm hai mặt: mặt động vật và mặt xã hội. Muốn
tạo ra chất lợng cuả yếu tố con ngời thì phải đảm bảo đợc sự phát triển toàn diện
của nó, trong đó mặt xã hội có đạt đợc hay không chủ yếu phụ thuộc vào việc đa
các yếu tố văn hoá vào mọi hoạt động của của con ngời, bao hàm hoạt động sản
xuất kinh doanh và các hoạt động cơ bản nhất của họ. Trong mối quan hệ xã hội
của con ngời nh vậy, các yếu tố văn hoá đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển thông qua tác động tạo sự hoàn thiện và đảm bảo chất lợng
của yếu tố sản xuất chủ yếu này. Sau đây là một số nét văn hoá tổ chức theo em là
cơ bản tác động tới động lực làm việc của ngời lao động:
1.Văn hoá tổ chức là những hoạt động văn hoá tinh thần.
Con ngời là chủ thể các hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngoài nhu cầu về
vật chất còn có những nhu cầu về đời sống tinh thần. Khi đời sống vật chất càng
cao thì đòi hỏi đời sống tinh thần cũng phải nâng cao tơng ứng. Mục tiêu của nền
kinh tế XHCN là nhằm đáp ứng ngày càng cao đời sống vật chất và tinh thần của
mọi thành viên trong xã hội. Mục tiêu này đợc nói thành một câu đơn giản: con
ngời không chỉ cần có bánh mỳ mà cần có cả hoa hồng. Nh vậy bản thân nhận
thức của con ngời đã thấy vai trò của đời sống văn hoá, tinh thần trong cuộc sống
hết sức cần thiết.
Trớc đây ngời ta thờng coi các hoạt động văn hoá là hoạt động đứng bên
ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp. Chỉ khi nào kinh tế phát triển thì mới có điều
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kiện cho các hoạt động văn hoá tinh thần. Nhng thực tế không phải nh vậy, qua
các di chỉ văn hoá của xã hội loài ngời thời cổ đã cho thấy có các hoạt động văn
hoá tức là các hoạt động này xuất hiện ngay khi đời sống vật chất mới ở mức độ
thấp nhất.
Xem xét quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần ta thấy chúng
ta là hai mặt của đời sống con ngời hay là hai mặt của một vấn đề. Theo quan
niệm biện chứng, tất yếu hai mặt đó có quan hệ mật thiết với nhau, quy định và tác
động lẫn nhau, không thể thiếu cái nào. Bất kể một sự thiên lệch nào, nếu chỉ coi
trọng một mặt của đời sống mặt kia bi coi nhẹ thì sự phát triển của con ngời sẽ
mất đi sự toàn diện, bị lệch lạc và lúc đó con ngời khó mà thể hiện đúng t xã hội
của mình là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Các hoạt động văn hoá tinh thần
làm cho con ngời cảm thấy có ý nghĩa thực sự trong cuộc sống. Con ngời không
phải là một cái máy chỉ biết làm việc nếu con ngời chỉ biết đến công việc thì én
một lúc nào đó họ sẽ cảm thâý rất cô đơn và không có cách nào bù đắp đợc, từ đó
họ sinh ra chán ghét, thù địch với công việc, chán ngán tất cả và với chính cả bản
thân của họ. Vật chất, tiền bạc không phải là tất cả có những giới hạn mà đồng
tiền không thể vơn tới đợc. Đó là hạnh phúc và niềm vui chân chính của con ngời.
Thực tế cho thấy có không ít những ngời ngồi trên cả đống vàng mà vẫn cảm thấy
bất hạnh.
Các hoạt động văn hoá tinh thần là gì? Đó chính là các hoạt động giải
trí:các chơng trình thể thao, văn hoá, chơng trình dã ngoại, nó sẽ giúp cho ngời lao
động sử dụng thời gian nhân sự một cách bổ ích hơn. Giúp ngời lao động có cảm
giác thoả mái phấn chấn và có cơ hội xích lại gần nhau, mở rộng quan hệ, nối kết
con ngời với nhau, từ đó ngời ta dễ dàng đồng cảm với nhau, cùng giúp đỡ nhau để
cùng thực hiện thành công mục tiêu của tổ chức.
Với vai trò nh thế, các tổ chức, các doanh nghiệp nên coi hoạt động văn hoá
tinh thần nh là một nét văn hoá của tổ chức mình. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp sẽ
có các cách thể hiện nó, tổ chức các hoạt động đó một cách khác nhau. Nhng phải
có những hoạt động văn hoá tinh thần thì ngời lao động trong tổ chức mới phát
triển một cách toàn diện đợc.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.Văn hoá tổ chức đợc thể hiện trong bố trí sắp xếp nơi làm việc một cách
hợp lý và đẹp mắt, thể hiện ở việc biết cách sử dụng âm nhạc, mầu sắc trong
sản xuất.
Các yếu tố văn hoá là những món ăn tinh thần không thể thiếu của đời sống
con ngời, nh những nhu cầu vật chất khác. Trong quá trình hoạt động lao động, sự
căng thẳng về cơ bắp và thần kinh diễn ra thờng xuyên, gây ra sự mệt mỏi và căng
thẳng về tâm lý. Đa các yếu tố văn hoá vào sản xuất kinh doanh từ việc thiết kế
nơi làm việc, các thiết bị và dụng cụ làm việc sẽ làm giảm đợc tần suất của nhng
căng thẳng đó. Đặc biệt đa các hoạt động văn hoá vào trớc giờ làm việc có thể tạo
ra sự hng phấn lao động, vào thời gian nghỉ ngơi và cuối giờ làm việc xóa đi sự
mệt mỏi và căng thẳng về tâm lý giúp con ngời nhanh chóng phục hồi sức lực hơn.
Âm nhạc nếu đợc sử dụng một cách hợp lý trong sản xuất sẽ làm tăng
năng suất cho ngời lao động.Theo các nhà sinh lý học hoạt động của hệ thần kinh
và bắp thịt của con ngời thờng theo một nhịp điệu nhất định, nhất là những công
việc nặng nhọc, căng thẳng. Âm nhạc có thể giúp con ngời tạo nen nhịp điệu này,
điều chỉnh sự co bóp của tim, huyết áp, hơi thở, tăng cờng tri giác trí nhớ, t duy
gây hào hứng hoặc làm sâu sắc khuynh hớng tình cảm của con ngời. Những ngời
Ai cập và Hy lạp cổ đại đã biết sử dụng âm nhạc nh một phơng tiện chữa bệnh và
nâng cao tinh thần và tâm trạng của bệnh nhân. Ngày nay, nền nghệ thuật âm nhạc
thế giới có vai trò vô cùng quan trọng trong đới sống của nhân dân toàn thế giới
nói chung. Với những bài ca chũ tình, các bài hát ca ngợi cuộc sống, hoà bình,
tình yêu, hạnh phúc âm nhạc đã mang lại hạnh phúc lớn lao cho nhân loại. Ngay
những năm đầu của thế kỷ 20 này nhiều nhà nghiên cứu tâm lý và âm nhạc đã sử
dụng âm nhạc trong thi đấu thể thao và trong lao động nhằm kích thích hoạt động
của các cầu thủ và ngời lao động. Âm nhạc có tác dụng rất lớn đối với ngời lao
động ở hai mặt là: tạo ra một tâm trạng hng phấn trong lao động và tạo ra nhịp độ
lao động cao và ổn định trong một thời gian dài. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng
nếu sử dụng âm nhạc đúng trong sản xuất sẽ làm tăng năng suất lao động từ 7-
20%.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh tâm lý âm nhạc thì tâm lý mầu sắc đóng vai trò quan trọng
trong việc tác động tới tâm lý ngời lao động. Các công trình nghiên cứu tâm lý và
sinh học hiện đại đã cho rằng con ngời thu nhận một khối các ấn tợng nhiều nhất
thông qua cơ quan thị giác. Do vậy phải tạo ra môi trờng xung quanh con ngời với
sự phối mầu hợp lý, sẽ tạo ra tâm lý tốt thông qua tiếp nhận của thị giác. Trong
thực tế sản xuất các nhà tâm lý lao động đã sử dụng phối mầu trong sản xuất nhằm
tạo kích thích tâm lý để nâng cao năng suất lao động, gây đợc hứng thú trong sản
xuất làm cho năng suất lao động tăng khoang 20% vầ có khi hơn thế.
Ngoài ra trong nhóm thẩm mỹ còn có các yếu tố trang trí mỹ thuật, cách bố
trí sắp xếp trong nhà xởng và tại nơi làm việc, cách sử dụng tranh ảnh và vật trang
trí, quần áo làm việc gọn gàng, bền nhẹ và phù hợp đều có tác dụng kích thích và
nâng cao năng suất lao động.
Âm nhạc và mầu sắc, cách sử dụng tranh ảnh và vật trang trí không phải ai
cũng biết cách dùng nó trong sản xuất thế nào. Điều này sẽ tạo nên sự khác biệt
giữa các doanh nghiệp với nhau. Hoặc cũng có thể do điều kiện làm việc khác
nhau, tuỳ theo loại công việc khác nhau mà sử dụng loại âm nhạc (âm nhạc theo
chức năng theo công việc), màu sắc khác nhau và điều này tạo nên sự khác biệt
giữa các tổ chức.
3.Văn hoá tổ chức thể hiện ở truyền thống tôn ty trật tự, kính già yêu trẻ.
Đây là một đạo lý của phơng đông đợc khai thác, sử dụng trong hoạt động
quản lý và kinh doanh thể hiện ở chế độ tăng lơng và thăng thởng theo thâm niên.
Chính nhờ chế độ đó mà tạo sự gắn bó giữa ngời lao động và công ty, sự ổn định
để cống hiến và là cơ sở để tiếp thu các giá trị văn hoá từ bên ngoài cũng nh kỹ
thuật tiên tiến.
4.Nét văn hoá tổ chức thể hiện ở lòng trung thành, bổn phận và trách nhiệm,
sự cống hiến hết mình cho tổ chức, đi cùng với nó là các chế độ gìn giữ và thu
hút nhân tài.
Điều này thấy rõ trong các công ty Nhật Bản, cái độc đáo là ở chỗ nó đợc
vận dụng một cách khéo léo trong hoạt động kinh doanh của các công ty. Đây là
sự phân biệt rõ rệt nhất so với chế độ quản lý ở các nớc TBCN phơng tây. Những
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
giá trị truyền thống đó đã tồn tại lâu đời và trở thành ý thức khó xoá bỏ trong mỗi
ngời dân cũng nh xã hội Nhật bản. Hơn thế nữa, nó còn tiếp thu, bổ sung cái mới
và là nhân tố cộng hởng và là động lực quan để hoạt động quản lý có hiệu quả
hơn, sinh động hơn. Bản thân công ty Nhật Bản đợc xây dựng và tổ chức trên cơ sở
chế độ gia đình. Vì vậy, công ty có bổn phận cố gắng duy trì tốt công ăn việc làm
cho công nhân và tạo ra sự thân ái đoàn kết trong công ty. Còn ngời lao động có
bổn phận và trách nhiệm hoàn thành công việc của mình với sự cố gắng nhất. ở
đây dờng nh quyền lợi của công ty và ngời lao động là một. Quan hệ chủ tớ truyền
thống vốn dựa trên lòng trung thành đã chuyển thành quan hệ thuê mớn dựa trên
đồng tiền, song nó không bộc lộ rõ ràng ra bên ngoài. Điều này che lấp thực chất
chế độ thuê mớn, bán sức lao động. Chính nhờ quan niệm đó mà huy động đợc
năng lực của ngời lao động và hớng sự tự giác của họ vào các hoạt động tập thể,
trong trờng hợp này đó chính là công ty. Đây chính là nguồn gốc sức mạnh để các
công ty nhật có thể đứng vững và có đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Tuy
nhiên để có đợc điều này là do sự tơng tác của nhiều yếu tố: hệ thống gia đình
vững chắc, bổn phận và sự giúp đỡ lẫn nhau và không thể không kể đến các chính
sách đãi ngộ rất cao mà các công ty Nhật dành cho ngời lao động đặc biệt là khi
phát hiện ra nhân tài, họ đãi ngộ về tất cả nhà cả, địa vị, khuyến khích công nhân
gửi tiết kiệm tại công ty với lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng, để sau một thời
gian có thể mua nhà cho riêng mình.
5.Nét văn hoá tổ chức đợc thể hiện ngay trong chính bầu không khí văn hoá
cuả chính tổ chức đó.
Với bầu không khí văn hoá khép kín: Các quyết định đều đợc cấp quản trị
cấp cao làm ra; cấp quản trị và cấp dới thiếu tin tởng lẫn nhau; bí mật bao trùm;
công nhân viên không đợc khuyến khích đề ra sáng kiến và tự mình giải quyết các
vấn đề. ở một cực khác là bầu không khí tâm lý mở hay thoáng mà các quyết định
thờng đợc các nhà quản trị cấp thấp đề ra; cấp trên và cấp dới rất tin tởng lẫn nhau;
truyền thông mở rộng và công nhân đợc khuyến khích đề ra sáng kiến và giải
quyết các vấn đề.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Một số công ty muốn đứng đầu trong việc trả lơng cao hay hơn các công ty
khác. Các công ty này muốn thu hút nhân tài bởi vì họ cho rằng trả lơng cao hơn
các hãng khác sẽ thu hút đợc những ứng viên có khả năng cao. Trả lơng cao cũng
thúc đẩy nhân viên làm việc có chất lợng cao,và năng suất cao, và vì thế chi phí
cho từng đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn.
Một số công ty khác lại áp dụng mức lơng thịnh hành - nghĩa là mức lơng
trung bình mà hầu hết các công ty khác đang áp dụng. Họ cho rằng họ vẫn có thể
thu hút đợc những ngời có khả năng vào làm việc, đồng thời họ vẫn duy trì đợc vị
trí cạnh tranh của mình bằng cách không nâng giá các sản phẩm, dịch vụ của
mình. Nhiều loại công việc trong dây chuyền sản xuất chỉ đòi hỏi các công nhân
có khả năng trung bình là đợc rồi. Trong trờng hợp này, một số công nhân xuất sắc
cũng không có năng suất cao hơn một công nhân có khả năng trung bình. Chẳng
hạn nh vặn bu lông trong dây chuyền.
Có công ty lại áp dụng chính sách trả lơng thấp hơn mức lơng hiện hành. có
2 lý do công ty này lại trả mức lơng thấp hơn: một là công ty rơi vào tình trạng tài
chính khó khăn; hai là họ cho rằng họ không cần công nhân giỏi để làm những
công việc rất đơn giản. Nhng các cuộc nghiên cứu đã chứng tỏ rằng trả lơng thấp
không có nghĩa là tiết kiệm đợc một khoản tiền chi phí lao động. Ngợc lại công ty
sẽ tốn kém hơn, bởi vì công nhân làm việc sẽ không có năng suất, tỷ lệ số ngời
làm việc tốt sẽ bỏ đi để tìm nơi khác trả lơng cao hơn.
6.Văn hoá tổ chức là ý chí cộng đồng và tinh thần tập thể.
Tri thức là kho tàng quý báu của nhân loại nói chung và mỗi dân tộc nói
riêng. Tri thức không của riêng ai và không có một vĩ nhân nào có đầy đủ tri thức
một cách toàn diện. Sử dụng tri thức đó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa
các cá nhân, các cộng đồng ngời để khai thác hết kho tàng tri thức đó phục vụ cho
sản xuất kinh doanh. ở Việt Nam có câu: tam ngu thánh hiền hay nói một cách
dân dã là ba ông thợ da bằng một Gia Cắt Lợng là một tổng kết đúc rút từ thực
tiễn. Nó thể hiện rằng trí tuệ của mỗi ngời là có hạn, còn trí tuệ của nhân loại là vô
hạn, trí tuệ của tập thể, của cộng đồng có thể bằng trí tuệ của các siêu nhân và th-
ờng thì bao giờ cũng hoàn thiện, đầy đủ hơn trí tuệ cá nhân. Trong hoạt động sản
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
xuất kinh doanh, trí tuệ mỗi ngời sẽ bổ sung cho nhau tạo ra trí tuệ tập thể ở một
trình độ cao và hoàn thiện hơn. Sự kết hợp đó là nét đẹp văn hoá trong sản xuất
kinh doanh và chính nó tạo ra sức mạnh tập thể, của cộng đồng.
Trong tổ chức ý chí cộng đồng và tinh thần tập thể đợc khai thác bằng việc
sử dụng chế độ tham dự, chế độ làm việc theo nhóm. Với phơng pháp quản lý này,
khai thác đợc năng lực sáng kiến cá nhân, tập hợp đợc ý chí chung tập thể. Vì vậy,
các quyết định thờng là đúng đắn và điều quan trọng là ngay từ lúc khởi đầu đến
lúc ra quyết định là quá trình tìm kiếm và đạt đợc sự nhất trí của các cá nhân và
của tập thể. Hơn thế, làm việc tập thể giúp mỗi ngời vợt qua đợc gian khổ vơn lên
giành đợc hạnh phúc lớn lao về cho mình, giúp mỗi ngời hiểu đợc cái tôi và cái
chúng ta để tự nguyện hoà đồng vào cộng đồng, đóng góp cho cộng đồng phát
triển. Theo học thuyết về hệ thống nhu cầu của Maslow, mỗi ngời đều có nhu cầu
là muốn đợc ngời khác tôn trọng và nhu cầu muốn đợc khẳng định bản thân mình.
Tổ chức cần tạo điều kiện để đợc thoả mãn hơn với công việc hay cũng chính là để
tạo động lực làm việc cho ngời lao động.
6.Trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, nội dung văn hoá thể hiện ở việc tổ
chức kinh doanh, nhân cách của ngời lãnh đạo và ngời lao động.
Trớc hết là doanh nghiệp không nên chỉ chú trọng đến lợi nhuận đơn thuần
mà phải xem ngời lao động vừa là động lực cho phát triển kinh doanh, vừa là mục
tiêu của hoạt động kinh doanh. Cần xem đơn vị kinh doanh là một gia đình lớn,
trong đó mỗi thành viên phải có trách nhiệm phải hành động về sự tồn tại và phát
triển của nó; mặt khác ngời lao động phải là đối tợng đợc chăm sóc và đợc hởng
thích đáng kết quả do công sức họ làm ra. Quan hệ đối xử, phong cách kinh
doanh là nét riêng của từng doanh nghiệp, và tất nhiên đó là biểu hiện bên ngoài
của sự phát triển hay sa sút của một doanh nghiệp.
7.Nội dung văn hoá của một doanh nghiệp còn thể hiện ở thái độ đối với sự
thành công hay thất bại trong thơng trờng: thắng không kiêu, bại không
nản .
Đó là thái độ đúng đắn mang đậm đà bản sắc dân tộc. Quá trình kinh doanh
là quá trình vợt dốc, nhà doanh nghiệp phải luôn luôn tính toán để đa cả đơn vị đi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
lên, và lúc hng thịnh vẫn phải lo lắng làm sao để tồn tại và phát triển mà không
phá sản. Và phải luôn nhớ rằng không có ai một mình ở quá trình này. Cá nhân chỉ
là cái chấm nhỏ nhoi trong lòng của tập thể ngời lao động. Có suy nghĩ nh thế, nhà
doanh nghiệp mới động viên, thuyết phục và huy động đợc mọi ngời lao động h-
ớng về mục tiêu chung chứ không phải chỉ phục vụ, sùng bái một ngời, một tập thể
nào.
8. Văn hoá tổ chức là những tri thức và kiến thức.
Bản thân tri thức và kiến thức nó là những giá trị văn hoá, nó biểu hiện dới
hình thái vật chất và hình thái ý thức, gắn liền với t liệu sản xuất và ngời lao động.
Phải có kiến thức và tri thức thì con ngời mới tiến hành đợc hoạt động lao động
của mình. Ngời lao động có trình độ chuyên môn càng cao, trình độ lành nghề
càng cao thì đi kèm theo đó là năng suất lao động và hiệu quả công việc càng cao.
Nhất là ngày nay khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì trình độ ng-
ời lao động cũng đợc đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Nếu ngời lao động không có tri
thức và kiến thức thì làm việc gì cũng khó, từ đó dẫn đến giảm hng phấn trong lao
động, và dĩ nhiên là không tạo ra hiệu quả kinh doanh.
II.Xây dựng văn hoá tổ chức để có thể tạo đợc động lực làm việc cho ngời lao
động.
Trong mối quan hệ giữa văn hoá tổ chức và vấn đề tạo động lực cho ngời
lao động nh trên đã trình bày, vậy chúng ta cần phải làm gì?
1.Xây dựng tinh thần đoàn kết trong doanh nghiệp. Cần phải xem đơn vị kinh
doanh là một gia đình lớn mỗi thành viên phải có trách nhiệm hành động vì sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. ở đó lợi ích của doanh nghiệp và ngời lao động
là một. Muốn thế thì doanh nghiệp không những quan tâm đến đời sống vật chất
(tiền lơng và các đãi ngộ khác) mà còn phải quan tâm tới đời sống tinh thần của
ngời lao động(tổ chức thi đấu thể thao, giao lu văn nghệ,chơng trình dã ngoại). Từ
đó xây dựng nên một bầu không khí tâm lý lành mạnh nó thể hiện ở sự đoàn kết
giúp đỡ lẫn nhau trên tình đồng chí, đồng đội, cùng nhau thực hiện mục tiêu chung
của tổ chức.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét