Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Văn hoá tổ chức và tác động của nó tới động lực làm việc của người lao động

cho những người trong tổ chức thấy rằng hành động không cãi vã với khách
hàng là chấp nhận được và hành động “cãi vã với khách hàng” là không chấp
nhận được. Hơn nữa những khái niệm vễ văn hoá tổ chức còn cho thấy tầm quan
trọng của việc “ chia sẻ” trong sự phát triển của những khái niệm về văn hoá tổ
chức. “Sự chia sẻ” ở đây có nghĩa là làm việc với kinh nghiệm chung; khi chúng
ta chia sẻ, chúng ta trực tiếp tham gia cùng với những người khác. Ở đây nhấn
mạnh sự giống nhau trong cách nghĩ, cách làm cuả mọi người. Đây là ý nghĩa
gắn chặt với các khái niệm về văn hoá tổ chức. Chia sẻ văn hoá nghĩa là mỗi
thành viên tham gia và đóng góp vào nền tảng văn hoá lớn hơn, sự đóng góp và
kinh nghiệm của mỗi thành viên là không giống nhau. Khi nói đến văn hoá như
là một hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin và kiến thức, cần phải ghi nhớ rằng văn
hoá phụ thuộc vào cả cộng đồng và sự đa dạng văn hoá. Văn hoá cho phép sự
giống nhau nhưng cũng thừa nhận và dựa trên sự khác nhau.
2. Vai trò của văn hoá tổ chức.
Văn hoá thực hiện một số chức năng trong phạm vi một tổ chức.Thứ nhất,
văn hoá có vai trò xác định ranh giới, nghĩa là văn hoá tạo ra sự khác biệt giữa tổ
chức này với tổ chức khác. Thứ hai, văn hoá có chức năng lan truyền chủ thể
cho các thành viên trong tổ chức. Thứ ba, văn hoá làm tăng sự ổn định của hệ
thống xã hội trong tổ chức. Thứ tư văn hoá thúc đẩy nhân viên cam kết đối với
lợi ích chung của tổ chức. Văn hoá là một chất keo dính, giúp gắn kết tổ chức
lại thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn thích hợp để người lao động biết phải
làm gì nói gì. Cuối cùng văn hoá có tác dụng kiểm soát để định hướng và hình
thành nên thái độ và hành vi của người lao động. Chức năng cuối cùng này có ý
nghĩa đặc biệt đối với chúng ta.
Văn hoá có tác dụng nâng cao sự cam kết tổ chức và làm tăng tính kiên
định trong hành vi của người lao động. Những điều này rõ ràng đem đến lợi ích
đích thực cho tổ chức. Theo quan điểm của người lao động, văn hoá có giá trị vì
nó làm giảm đáng kể sự mơ hồ. Nó chỉ cho nhân viên mọi thứ được tiến hành
như thế nào và cái gì là quan trọng.
Ngược lại,văn hoá cũng có thể là một gánh nặng khi những giá trị chung
của tổ chức không phù hợp. Tình hình này hay xảy ra nhất khi môi trường của tổ
chức rất năng động. Khi môi trường tổ đang trải qua một sự thay đổi nhanh
chóng, văn hoá vốn có của tổ chức có thể hầu như không còn phù hợp nữa. Tính
kiên định trong hành vi là một tài sản đối với tổ chức trong một môi trường ổn
định. Tuy nhiên nó cũng có thể là một gánh nặng cho tổ chức và cản trở khả
năng thích ứng của tổ chức với những thay đổi trong môi trường. Hơn nữa, văn
hoá cũng có thể gây cản trở đối với sự thay đổi, sự đa dạng của nguồn lực con
người trong tổ chức. Bản thân mỗi người lao động có một hệ thống giá trị và
niềm tin riêng của họ. Khi làm việc trong môi trương có nền văn hoá mạnh, họ
cần phải tuân thủ theo những quy phạm và hệ thống giá trị chung của tổ chức.
Như vậy những mặt mạnh hay những ưu thế của từng người lao động sẽ phần
nào bị hạn chế.
II. Tạo động lực và vai trò của tạo động lực
Một tổ chức chỉ có thể đạt chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những
nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức mà
những người quản lý sử dụng để tạo động lực cho nhân viên.
Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người lỗ lực làm
việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất hiệu quả cao.Biểu hiện của động lực là
sự sẵn sàng lỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của
bản thân người lao động. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn tới năng
suất và hiệu quả công việc vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực
mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để
thực hiên công việc. Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành
công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ
không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức.
Các nhân tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của người lao động. Các
nhân tố đó có thể phân thành 3 nhóm như sau:
+ Nhóm nhân tố thuộc về người lao động, bao gồm:
-Thái độ, quan điểm của người lao động trong công việc và đối với tổ chức
-Nhận thức của người lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân
- Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân người lao động
+Nhóm nhân tố thuộc về công việc, bao gồm:
- Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp
- Mức độ chuyên môn hoá của công việc
- Mức độ phức của công việc
- Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc
- Mức độ hao phí về trí lực
+ Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức, bao gồm:
- Mục tiêu chiến lược của tổ chức
- Văn hoá tổ chức
- Lãnh đạo ( quan điểm, phong cách, phương pháp)
- Quan hệ nhóm
- Các chính sách liên quan tới quyền và nghĩa vụ của người lao động, nhất là các
chính sách về quản trị nguồn nhân lực.
Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật
quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực
trong công việc. Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu
của quản lý. Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng
tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác.
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIỮA VĂN HOÁ TỔ CHỨC VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ TỚI ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
I. Quan hệ giữa văn hóa tổ chức và tác động của nó tới động lực làm việc
của người lao động.
Trước hết ta phải khẳng định rằng, văn hoá tổ chức là một trong những nhân tố,
một công cụ tác động tới động lực làm việc của người lao động. Đưa các yếu tố
văn hoá vào kinh doanh là tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Quá trình sản xuất kinh doanh đòi các yếu tố của nó phải có một số lượng và
chất lượng nhất định, cũng như sự kết hợp hài hoà các yếu tố đó. Một trong
những yếu tố cơ bản đó là con người, luôn bao hàm hai mặt: mặt động vật và
mặt xã hội. Muốn tạo ra chất lượng cuả yếu tố con người thì phải đảm bảo được
sự phát triển toàn diện của nó, trong đó mặt xã hội có đạt được hay không chủ
yếu phụ thuộc vào việc đưa các yếu tố văn hoá vào mọi hoạt động của của con
người, bao hàm hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động cơ bản nhất của
họ. Trong mối quan hệ xã hội của con người như vậy, các yếu tố văn hoá đã trở
thành động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua tác động tạo
sự hoàn thiện và đảm bảo chất lượng của yếu tố sản xuất chủ yếu này. Sau đây
là một số nét văn hoá tổ chức theo em là cơ bản tác động tới động lực làm việc
của người lao động:
1.Văn hoá tổ chức là những hoạt động văn hoá tinh thần.
Con người là chủ thể các hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngoài nhu cầu
về vật chất còn có những nhu cầu về đời sống tinh thần. Khi đời sống vật chất
càng cao thì đòi hỏi đời sống tinh thần cũng phải nâng cao tương ứng. Mục tiêu
của nền kinh tế XHCN là nhằm đáp ứng ngày càng cao đời sống vật chất và tinh
thần của mọi thành viên trong xã hội. Mục tiêu này được nói thành một câu đơn
giản: “con người không chỉ cần có bánh mỳ mà cần có cả hoa hồng”. Như vậy
bản thân nhận thức của con người đã thấy vai trò của đời sống văn hoá, tinh thần
trong cuộc sống hết sức cần thiết.
Trước đây người ta thường coi các hoạt động văn hoá là hoạt động đứng
bên ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp. Chỉ khi nào kinh tế phát triển thì mới có
điều kiện cho các hoạt động văn hoá tinh thần. Nhưng thực tế không phải như
vậy, qua các di chỉ văn hoá của xã hội loài người thời cổ đã cho thấy có các hoạt
động văn hoá tức là các hoạt động này xuất hiện ngay khi đời sống vật chất mới
ở mức độ thấp nhất.
Xem xét quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần ta thấy
chúng ta là hai mặt của đời sống con người hay là hai mặt của một vấn đề. Theo
quan niệm biện chứng, tất yếu hai mặt đó có quan hệ mật thiết với nhau, quy
định và tác động lẫn nhau, không thể thiếu cái nào. Bất kể một sự thiên lệch nào,
nếu chỉ coi trọng một mặt của đời sống mặt kia bi coi nhẹ thì sự phát triển của
con người sẽ mất đi sự toàn diện, bị lệch lạc và lúc đó con người khó mà thể
hiện đúng tư xã hội của mình là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Các hoạt
động văn hoá tinh thần làm cho con người cảm thấy có ý nghĩa thực sự trong
cuộc sống. Con người không phải là một cái máy chỉ biết làm việc nếu con
người chỉ biết đến công việc thì én một lúc nào đó họ sẽ cảm thâý rất cô đơn và
không có cách nào bù đắp được, từ đó họ sinh ra chán ghét, thù địch với công
việc, chán ngán tất cả và với chính cả bản thân của họ. Vật chất, tiền bạc không
phải là tất cả có những giới hạn mà đồng tiền không thể vươn tới được. Đó là
hạnh phúc và niềm vui chân chính của con người. Thực tế cho thấy có không ít
những người ngồi trên cả đống vàng mà vẫn cảm thấy bất hạnh.
Các hoạt động văn hoá tinh thần là gì? Đó chính là các hoạt động giải
trí:các chương trình thể thao, văn hoá, chương trình dã ngoại, nó sẽ giúp cho
người lao động sử dụng thời gian nhân sự một cách bổ ích hơn. Giúp người lao
động có cảm giác thoả mái phấn chấn và có cơ hội xích lại gần nhau, mở rộng
quan hệ, nối kết con người với nhau, từ đó người ta dễ dàng đồng cảm với nhau,
cùng giúp đỡ nhau để cùng thực hiện thành công mục tiêu của tổ chức.
Với vai trò như thế, các tổ chức, các doanh nghiệp nên coi hoạt động văn
hoá tinh thần như là một nét văn hoá của tổ chức mình. Tuy nhiên mỗi doanh
nghiệp sẽ có các cách thể hiện nó, tổ chức các hoạt động đó một cách khác nhau.
Nhưng phải có những hoạt động văn hoá tinh thần thì người lao động trong tổ
chức mới phát triển một cách toàn diện được.
2.Văn hoá tổ chức được thể hiện trong bố trí sắp xếp nơi làm việc một cách
hợp lý và đẹp mắt, thể hiện ở việc biết cách sử dụng âm nhạc, mầu sắc
trong sản xuất.
Các yếu tố văn hoá là những món ăn tinh thần không thể thiếu của đời
sống con người, như những nhu cầu vật chất khác. Trong quá trình hoạt động
lao động, sự căng thẳng về cơ bắp và thần kinh diễn ra thường xuyên, gây ra sự
mệt mỏi và căng thẳng về tâm lý. Đưa các yếu tố văn hoá vào sản xuất kinh
doanh từ việc thiết kế nơi làm việc, các thiết bị và dụng cụ làm việc sẽ làm giảm
được tần suất của nhưng căng thẳng đó. Đặc biệt đưa các hoạt động văn hoá vào
trước giờ làm việc có thể tạo ra sự hưng phấn lao động, vào thời gian nghỉ ngơi
và cuối giờ làm việc xóa đi sự mệt mỏi và căng thẳng về tâm lý giúp con người
nhanh chóng phục hồi sức lực hơn.
Âm nhạc nếu được sử dụng một cách hợp lý trong sản xuất sẽ làm tăng
năng suất cho người lao động.Theo các nhà sinh lý học hoạt động của hệ thần
kinh và bắp thịt của con người thường theo một nhịp điệu nhất định, nhất là
những công việc nặng nhọc, căng thẳng. Âm nhạc có thể giúp con người tạo nen
nhịp điệu này, điều chỉnh sự co bóp của tim, huyết áp, hơi thở, tăng cường tri
giác trí nhớ, tư duy gây hào hứng hoặc làm sâu sắc khuynh hướng tình cảm của
con người. Những người Ai cập và Hy lạp cổ đại đã biết sử dụng âm nhạc như
một phương tiện chữa bệnh và nâng cao tinh thần và tâm trạng của bệnh nhân.
Ngày nay, nền nghệ thuật âm nhạc thế giới có vai trò vô cùng quan trọng trong
đới sống của nhân dân toàn thế giới nói chung. Với những bài ca chũ tình, các
bài hát ca ngợi cuộc sống, hoà bình, tình yêu, hạnh phúc âm nhạc đã mang lại
hạnh phúc lớn lao cho nhân loại. Ngay những năm đầu của thế kỷ 20 này nhiều
nhà nghiên cứu tâm lý và âm nhạc đã sử dụng âm nhạc trong thi đấu thể thao và
trong lao động nhằm kích thích hoạt động của các cầu thủ và người lao động.
Âm nhạc có tác dụng rất lớn đối với người lao động ở hai mặt là: tạo ra một tâm
trạng hưng phấn trong lao động và tạo ra nhịp độ lao động cao và ổn định trong
một thời gian dài. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nếu sử dụng âm nhạc đúng
trong sản xuất sẽ làm tăng năng suất lao động từ 7-20%.
Bên cạnh tâm lý âm nhạc thì tâm lý mầu sắc đóng vai trò quan trọng
trong việc tác động tới tâm lý người lao động. Các công trình nghiên cứu tâm lý
và sinh học hiện đại đã cho rằng con người thu nhận một khối các ấn tượng
nhiều nhất thông qua cơ quan thị giác. Do vậy phải tạo ra môi trường xung
quanh con người với sự phối mầu hợp lý, sẽ tạo ra tâm lý tốt thông qua tiếp nhận
của thị giác. Trong thực tế sản xuất các nhà tâm lý lao động đã sử dụng phối
mầu trong sản xuất nhằm tạo kích thích tâm lý để nâng cao năng suất lao động,
gây được hứng thú trong sản xuất làm cho năng suất lao động tăng khoang 20%
vầ có khi hơn thế.
Ngoài ra trong nhóm thẩm mỹ còn có các yếu tố trang trí mỹ thuật, cách
bố trí sắp xếp trong nhà xưởng và tại nơi làm việc, cách sử dụng tranh ảnh và vật
trang trí, quần áo làm việc gọn gàng, bền nhẹ và phù hợp đều có tác dụng kích
thích và nâng cao năng suất lao động.
Âm nhạc và mầu sắc, cách sử dụng tranh ảnh và vật trang trí không phải
ai cũng biết cách dùng nó trong sản xuất thế nào. Điều này sẽ tạo nên sự khác
biệt giữa các doanh nghiệp với nhau. Hoặc cũng có thể do điều kiện làm việc
khác nhau, tuỳ theo loại công việc khác nhau mà sử dụng loại âm nhạc (âm nhạc
theo chức năng theo công việc), màu sắc khác nhau và điều này tạo nên sự khác
biệt giữa các tổ chức.
3.Văn hoá tổ chức thể hiện ở truyền thống tôn ty trật tự, kính già yêu trẻ.
Đây là một đạo lý của phương đông được khai thác, sử dụng trong hoạt
động quản lý và kinh doanh thể hiện ở chế độ tăng lương và thăng thưởng theo
thâm niên. Chính nhờ chế độ đó mà tạo sự gắn bó giữa người lao động và công
ty, sự ổn định để cống hiến và là cơ sở để tiếp thu các giá trị văn hoá từ bên
ngoài cũng như kỹ thuật tiên tiến.
4.Nét văn hoá tổ chức thể hiện ở lòng trung thành, bổn phận và trách
nhiệm, sự cống hiến hết mình cho tổ chức, đi cùng với nó là các chế độ gìn
giữ và thu hút nhân tài.
Điều này thấy rõ trong các công ty Nhật Bản, cái độc đáo là ở chỗ nó
được vận dụng một cách khéo léo trong hoạt động kinh doanh của các công ty.
Đây là sự phân biệt rõ rệt nhất so với chế độ quản lý ở các nước TBCN phương
tây. Những giá trị truyền thống đó đã tồn tại lâu đời và trở thành ý thức khó xoá
bỏ trong mỗi người dân cũng như xã hội Nhật bản. Hơn thế nữa, nó còn tiếp thu,
bổ sung cái mới và là nhân tố cộng hưởng và là động lực quan để hoạt động
quản lý có hiệu quả hơn, sinh động hơn. Bản thân công ty Nhật Bản được xây
dựng và tổ chức trên cơ sở chế độ gia đình. Vì vậy, công ty có bổn phận cố gắng
duy trì tốt công ăn việc làm cho công nhân và tạo ra sự thân ái đoàn kết trong
công ty. Còn người lao động có bổn phận và trách nhiệm hoàn thành công việc
của mình với sự cố gắng nhất. Ở đây dường như quyền lợi của công ty và người
lao động là một. Quan hệ chủ tớ truyền thống vốn dựa trên lòng trung thành đã
chuyển thành quan hệ thuê mướn dựa trên đồng tiền, song nó không bộc lộ rõ
ràng ra bên ngoài. Điều này che lấp thực chất chế độ thuê mướn, bán sức lao
động. Chính nhờ quan niệm đó mà huy động được năng lực của người lao động
và hướng sự tự giác của họ vào các hoạt động tập thể, trong trường hợp này đó
chính là công ty. Đây chính là nguồn gốc sức mạnh để các công ty nhật có thể
đứng vững và có đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên để có
được điều này là do sự tương tác của nhiều yếu tố: hệ thống gia đình vững chắc,
bổn phận và sự giúp đỡ lẫn nhau và không thể không kể đến các chính sách đãi
ngộ rất cao mà các công ty Nhật dành cho người lao động đặc biệt là khi phát
hiện ra nhân tài, họ đãi ngộ về tất cả nhà cả, địa vị, khuyến khích công nhân gửi
tiết kiệm tại công ty với lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng, để sau một thời gian
có thể mua nhà cho riêng mình.
5.Nét văn hoá tổ chức được thể hiện ngay trong chính bầu không khí văn
hoá cuả chính tổ chức đó.
Với bầu không khí văn hoá khép kín: Các quyết định đều được cấp quản
trị cấp cao làm ra; cấp quản trị và cấp dưới thiếu tin tưởng lẫn nhau; bí mật bao
trùm; công nhân viên không được khuyến khích đề ra sáng kiến và tự mình giải
quyết các vấn đề. Ở một cực khác là bầu không khí tâm lý mở hay thoáng mà
các quyết định thường được các nhà quản trị cấp thấp đề ra; cấp trên và cấp dưới
rất tin tưởng lẫn nhau; truyền thông mở rộng và công nhân được khuyến khích
đề ra sáng kiến và giải quyết các vấn đề.
Một số công ty muốn đứng đầu trong việc trả lương cao hay hơn các công
ty khác. Các công ty này muốn thu hút nhân tài bởi vì họ cho rằng trả lương cao
hơn các hãng khác sẽ thu hút được những ứng viên có khả năng cao. Trả lương
cao cũng thúc đẩy nhân viên làm việc có chất lượng cao,và năng suất cao, và vì
thế chi phí cho từng đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn.
Một số công ty khác lại áp dụng mức lương thịnh hành - nghĩa là mức
lương trung bình mà hầu hết các công ty khác đang áp dụng. Họ cho rằng họ vẫn
có thể thu hút được những người có khả năng vào làm việc, đồng thời họ vẫn
duy trì được vị trí cạnh tranh của mình bằng cách không nâng giá các sản phẩm,
dịch vụ của mình. Nhiều loại công việc trong dây chuyền sản xuất chỉ đòi hỏi
các công nhân có khả năng trung bình là được rồi. Trong trường hợp này, một số
công nhân xuất sắc cũng không có năng suất cao hơn một công nhân có khả
năng trung bình. Chẳng hạn như vặn bu lông trong dây chuyền.
Có công ty lại áp dụng chính sách trả lương thấp hơn mức lương hiện
hành. có 2 lý do công ty này lại trả mức lương thấp hơn: một là công ty rơi vào
tình trạng tài chính khó khăn; hai là họ cho rằng họ không cần công nhân giỏi để
làm những công việc rất đơn giản. Nhưng các cuộc nghiên cứu đã chứng tỏ rằng
trả lương thấp không có nghĩa là tiết kiệm được một khoản tiền chi phí lao
động. Ngược lại công ty sẽ tốn kém hơn, bởi vì công nhân làm việc sẽ không có
năng suất, tỷ lệ số người làm việc tốt sẽ bỏ đi để tìm nơi khác trả lương cao hơn.
6.Văn hoá tổ chức là ý chí cộng đồng và tinh thần tập thể.
Tri thức là kho tàng quý báu của nhân loại nói chung và mỗi dân tộc nói
riêng. Tri thức không của riêng ai và không có một vĩ nhân nào có đầy đủ tri
thức một cách toàn diện. Sử dụng tri thức đó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa các cá nhân, các cộng đồng người để khai thác hết kho tàng tri thức đó
phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Ở Việt Nam có câu: tam ngu thánh hiền hay
nói một cách dân dã là ba ông thợ da bằng một Gia Cắt Lượng là một tổng kết
đúc rút từ thực tiễn. Nó thể hiện rằng trí tuệ của mỗi người là có hạn, còn trí tuệ
của nhân loại là vô hạn, trí tuệ của tập thể, của cộng đồng có thể bằng trí tuệ của
các siêu nhân và thường thì bao giờ cũng hoàn thiện, đầy đủ hơn trí tuệ cá nhân.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trí tuệ mỗi người sẽ bổ sung cho nhau tạo
ra trí tuệ tập thể ở một trình độ cao và hoàn thiện hơn. Sự kết hợp đó là nét đẹp
văn hoá trong sản xuất kinh doanh và chính nó tạo ra sức mạnh tập thể, của cộng
đồng.
Trong tổ chức ý chí cộng đồng và tinh thần tập thể được khai thác bằng
việc sử dụng chế độ tham dự, chế độ làm việc theo nhóm. Với phương pháp
quản lý này, khai thác được năng lực sáng kiến cá nhân, tập hợp được ý chí
chung tập thể. Vì vậy, các quyết định thường là đúng đắn và điều quan trọng là
ngay từ lúc khởi đầu đến lúc ra quyết định là quá trình tìm kiếm và đạt được sự
nhất trí của các cá nhân và của tập thể. Hơn thế, làm việc tập thể giúp mỗi người
vượt qua được gian khổ vươn lên giành được hạnh phúc lớn lao về cho mình,
giúp mỗi người hiểu được cái tôi và cái chúng ta để tự nguyện hoà đồng vào
cộng đồng, đóng góp cho cộng đồng phát triển. Theo học thuyết về hệ thống nhu
cầu của Maslow, mỗi người đều có nhu cầu là muốn được người khác tôn trọng
và nhu cầu muốn được khẳng định bản thân mình. Tổ chức cần tạo điều kiện để
được thoả mãn hơn với công việc hay cũng chính là để tạo động lực làm việc
cho người lao động.
6.Trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, nội dung văn hoá thể hiện ở việc tổ
chức kinh doanh, nhân cách của người lãnh đạo và người lao động.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét